4.
Gần thư viện có mấy hộ dân sinh sống.
Người thư sinh hôm nọ tìm ta tên là Hứa Thường.
Hứa Thường dặn dò:
"Người trong thư viện đều dễ gần, mấy hộ dân xung quanh cũng tốt bụng, chỉ có điều đừng dây dưa với con chó ghẻ."
"Chó ghẻ?"
Hứa Thường hậm hực đáp:
"Chính là A Hổ, thằng nhãi không cha không mẹ dạy dỗ."
Ta từng nghe người khác nói qua.
A Hổ là đứa trẻ mười tuổi, cha nó tái hôn, mẹ nó đi bước nữa, bỏ lại nó một thân một mình không ai đoái hoài.
Bọn trẻ không muốn chơi với A Hổ, nói nó là đứa chuyên nói dối, tay chân không sạch sẽ, hay trộm gà, bắt chó.
Hơn nữa, nó khỏe, thích đánh nhau.
Ai chọc giận nó, đêm đến nó sẽ xô đổ giàn mướp, mở chuồng gà nhà người ta, để chồn hoang đến phá.
Trẻ con ghét nó thì thôi, nhưng lạ thay, Hứa Thường, một người hai mươi tuổi, lại có hiềm khích với đứa trẻ mười tuổi này.
Hóa ra hai năm trước, A Hổ đặt bẫy bắt thỏ rừng, khiến Hứa Thường trượt ngã gãy chân, lỡ mất kỳ thi.
Mà đề thi năm đó, lại là phần lịch sử bình luận mà Hứa Thường giỏi nhất.
Từ đó, Hứa Thường căm ghét nó.
Hứa Thường muốn đánh nó, A Hổ liền nằm vật ra đất, làm trò:
"Đánh người kìa! Đánh trẻ con kìa! Học giả đánh người tốt kìa!"
Hứa Thường tức không chịu được, bèn mua kẹo phát cho lũ trẻ quanh đây, xúi chúng đánh A Hổ một trận.
A Hổ bị đánh, nhưng vẫn lăn lộn dưới bùn như một con chó ghẻ:
"Ha ha, không đau, chẳng đau chút nào!"
Không ai trong thư viện trị nổi nó.
Hứa Thường đành chịu thua, coi như số xui.
Ta chưa từng động tới nó, nhưng nó lại gây sự với ta.
Nó trộm con gà lông hoa của ta, mang ra sau núi nướng ăn.
Đùi gà nóng quá, nó làm rơi xuống đất, cũng không thấy ghê, chỉ phủi đất rồi nhét vào miệng.
Ăn vội vàng, nó làm đau vết thương, hít vào một hơi, nhưng không cản được cơn thèm.
Nó ăn ngon lành đến mức không nhận ra ta đứng phía sau.
Ta vỗ vai nó:
"Thịt gà lông hoa mà nướng kiểu này thì dở lắm."
A Hổ giật mình run lẩy bẩy, bị nghẹn, ho không ngừng.
Ta vỗ lưng nó:
"Loại gà này nên nấu súp với nấm, hoặc xào để làm món chan mì."
Ta nấu hai bát canh gà, một bát cho nó, một bát cho ta.
Nhưng bát của nó có hai cái đùi gà.
Giống như trước đây, mỗi khi nấu canh gà cho Bách nhi và Mạnh Hạc Thư, mỗi người một cái đùi.
A Hổ nhìn ta đầy ngờ vực, nhưng không cưỡng lại được mùi thơm của canh và độ béo của đùi gà.
"Ngươi định làm gì?"
"Ta chỉ muốn nói rằng, gà lông hoa thích hợp để hầm canh."
"Nước canh có độc à? Ngươi tưởng ta không dám ăn sao?"
Nó như liều mạng, bưng bát lên uống một ngụm.
Ta thấy nó tròn mắt ngay từ miếng đầu tiên.
Ăn ngấu nghiến, ta nghi ngờ nó sắp nuốt luôn cả lưỡi.
Ta bất giác cảm thán, đúng là người ta nói chẳng sai: "Trẻ trai nửa lớn, ăn nghèo cả cha."
Uống hết bát thứ ba, ánh mắt A Hổ dường như sáng hơn.
"Lần sau đói bụng, đừng trộm nữa. Cứ đến đây ăn cơm."
Nó lấy ống tay áo bẩn không nhìn ra màu lau miệng, định nói gì đó, nhưng vừa ngẩng lên đã thấy Hứa Thường bước vào, vội đặt bát xuống, chạy biến đi, không kịp nói lời cảm ơn.
Hứa Thường nhìn theo bóng nó, nhổ nước bọt:
"Nương tử, đừng mềm lòng. Thằng nhãi đó là giống vong ân bội nghĩa."
Không phải ta mềm lòng.
Chỉ là ta nghĩ một đứa trẻ biết trân trọng thức ăn, chắc không đến mức quá xấu xa.
Nhưng hôm sau, giàn đậu đằng sau thư viện của ta bị đổ.
Hứa Thường dẫn theo một nhóm người đến làm chứng, còn A Hổ đứng ngơ ngác bên cạnh giàn đậu bị đổ, không biết phải làm gì.
Chưa đợi ta mở lời, A Hổ đã hung hăng đẩy mạnh Hứa Thường ngã nhào rồi vội vã chạy biến.
"Thằng nhãi này! Nương tử đối xử với nó tốt như thế, vậy mà nó lại phá hoại vườn nhà."
Ta nghĩ một chút rồi nói:
"Tối qua gió thổi cả đêm, lại thêm mưa lớn, có lẽ là ta dựng giàn không chắc."
Tối đó, bên ngoài sân có một bóng người lén lút ngồi thụp xuống.
Ta hâm nóng lại nồi canh gà hôm qua, hương thơm lan tỏa, bóng dáng ấy không còn chịu yên được nữa.
"... Giàn đậu không phải do ta xô đổ. Tối qua nghe tiếng gió, ta chỉ lo giàn của ngươi bị thổi ngã nên chạy qua xem."
"Đã nói ra được, sao còn chạy?"
A Hổ cúi đầu, giọng mang theo chút nghẹn ngào:
"Ta không muốn chạy, nhưng sợ ngươi chưa kịp hỏi đã mắng trước."
"Vậy lần sau có chuyện gì, ta sẽ hỏi ngươi trước, được không?"
A Hổ không đáp, chỉ bưng cả bát canh lên uống, lấy bát che mặt, mãi không chịu đặt xuống.
Ta bật cười trêu:
"Gà lông hoa chan nước mắt không ngon đâu, sẽ mặn đấy."
5.
Chớp mắt đã sang mùa hạ.
Ve kêu rả rích trong sân sau, bóng mát che phủ khắp cả vườn.
Các tiên sinh đi du học, đã rời thư viện từ lâu.
Hôm nay rảnh rỗi, ta tháo chăn màn và y phục của học trò mang ra giặt phơi.
"Con không đọc sách, đầu óc con ngốc lắm." A Hổ giúp ta dựng chắc giàn phơi, vừa làm vừa lắc đầu. "Hơn nữa, người trong thư viện đều ghét con, con cũng ghét họ."
A Hổ mười tuổi, hơn Bách nhi ba tuổi.
Bách nhi đã thuộc lòng Thiên Tự Văn, còn biết làm mấy phép tính nhỏ.
A Hổ thì chẳng biết gì, ngay cả chữ cũng nhận không được mấy.
Ta nghĩ sẽ dành dụm nửa năm tiền, tìm một lớp học cho A Hổ.
"Con không biết chữ, cũng không có tài nấu cơm, sau này nếu bị người ta ức hiếp thì làm sao?"
"Nếu người ta ức hiếp con, con sẽ tìm mẹ bảo vệ!"
"Đến lúc đó mẹ già rồi, con làm thế nào?"
Câu hỏi ấy khiến A Hổ buồn bã, nó nắm chặt lấy tay áo ta:
"Mẹ không được già! Tuyệt đối không được già!"
"Được, được, mẹ không già, mẹ sẽ luôn ở bên con."
Ta ngồi xổm xuống, lau đi nước mắt trên mặt nó.
Bỗng nghe sau lưng có tiếng gọi, giọng nói tràn đầy vui sướng không thể tin nổi:
"... A Kiều?"
Gió thổi tung những bộ quần áo phơi trong sân, như cánh buồm trên mặt nước, lay động mơ hồ.
Ta đứng dậy, thấy Mạnh Hạc Thư đang dắt Bách nhi đứng sau mấy lớp vải, tựa như cách ta một dòng sông.
"... Là A Kiều thật sao?"
Có lẽ vì vất vả chăm sóc phụ nữ mang thai, Mạnh Hạc Thư gầy đi nhiều.
Hắn không dám bước tới, chỉ ngây người nhìn ta, đôi mắt đỏ hoe.
Bách nhi giằng khỏi tay hắn, gọi "mẹ" rồi chạy ào tới, như thường lệ muốn lao vào lòng ta làm nũng.
Nhưng lại bị A Hổ đẩy ngã nhào.
A Hổ cảnh giác ôm chặt lấy cánh tay ta, giống như con hổ nhỏ bảo vệ thức ăn:
"Ngươi là ai! Dựa vào đâu mà gọi mẹ ta là mẹ?"
Mạnh Hạc Thư sửng sốt, nhưng thấy A Hổ còn cao hơn cả Bách nhi, lòng hắn giảm đi một nửa nghi ngờ.
Ta đương nhiên không dám tự cho mình là quan trọng, nghĩ rằng chuyến đi mệt nhọc của Mạnh Hạc Thư lần này là vì tìm ta.
Ta bỗng nghĩ ra điều gì, kiễng chân nhìn ra sau lưng hắn:
"Huynh đến đây, có phải vì cô nương Ngọc Chương cũng ở đây không?"
Thấy ta cẩn thận hỏi như vậy, ánh mắt Mạnh Hạc Thư đầy vẻ đau khổ.
Không phải ta cẩn thận.
Khi còn ở bên Mạnh Hạc Thư, ta từng nghĩ mình quan trọng.
Ta đã từng tin rằng, Mạnh Hạc Thư đối với ta là nhất kiến chung tình, nên mới đứng ra giải vây khi khách nhân nói món ăn của ta có độc.
Ta từng nghĩ Mạnh Hạc Thư bản tính ôn hòa, chậm rãi, bảy năm trước uống say mới dám nói muốn cưới ta, là vì mượn rượu để tăng thêm dũng khí.
Ta không biết rằng ngày hôm ấy, cô nương Ngọc Chương cũng ăn món ta nấu, khiến hắn lo lắng không yên.
Ta cũng không biết rằng, hôm ấy Mạnh Hạc Thư mượn rượu giải sầu, nói muốn cưới ta là vì ghen với Ngọc Chương và Lục Diễn.