Ta nhanh hơn Chu Vọng Thanh một bước, lên tiếng:
“Phu quân, thiếp biết chàng một lòng hướng về Nguyệt Lan tỷ tỷ, nhưng Hành nhi những năm nay thật sự có chút quá sức kiêu căng rồi.”
“Nếu lúc này không dạy bảo nghiêm chỉnh, sau này phạm sai lầm thì đã muộn.”
Ta nói lời gan ruột, chẳng khác nào một người mẹ kế hết lòng lo lắng cho con riêng.
Chu Vọng Thanh im lặng.
Hắn thừa biết đức hạnh của Chu Hành ra sao, chỉ vì nể tình Cố thị mà hắn xót con, lão phu nhân lại càng không cần bàn tới, chiều hư nó thành cái tính cách coi trời bằng vung này.
“Chỉ là dậy sớm tụng kinh mỗi ngày thôi mà, chắc cũng không kéo dài lâu đâu, sẵn tiện cho con rèn luyện một chút, cứ nghe theo lời mẹ con đi.”
Chu Hành thất vọng cúi đầu, mắt rưng rưng lệ: “Cha, từ khi bà ta đến, cha không còn thương con nữa.”
Ta khẽ nhếch môi.
Những ngày sau đó, trời chưa sáng ta đã gọi Chu Hành dậy, hạ nhân toàn phủ cùng nhau thấp giọng tụng kinh, khiến cho cả lão phu nhân cũng không được yên giấc.
Nhân tiện, ta treo chân dung huynh trưởng ở chính sảnh, bắt tất cả hạ nhân phải hành lễ trước bức hình, hằng ngày làm điểm tâm tinh tế phân phát cho mọi người trong phủ.
Chỉ nói rằng: “Huynh trưởng ban đêm báo mộng, muốn mọi người cùng hưởng phúc trạch này.”
Nhất thời, ngoại trừ Chu Hành, đám hạ nhân trong phủ ai nấy đều mong được dậy sớm tụng kinh hành lễ.
Tiếp đó, ta lại bắt Chu Hành mặc tố phục trong ba ngày, để tận hiếu với vị cữu cữu mà nó chưa từng gặp mặt.
“Huynh trưởng mất đã ba năm, ngươi mặc đồ tang ba ngày thì có làm sao? Hay là, ngươi căn bản không muốn nhận vị cữu cữu này?”
Chu Hành không trả lời được.
Nó đến học đường ba ngày là bị bạn bè chê cười suốt ba ngày, trở về liền đến chỗ lão phu nhân khóc lóc không thôi, lại náo loạn với Chu Vọng Thanh một trận.
Chu Vọng Thanh đi tới chính sảnh, định ngăn cản ta: “Diệu Âm, huy động nhân lực thế này e là làm mất đi sự thanh tĩnh trong phủ.”
Lúc đó ta đang tự tay lau chùi bức chân dung, nghe vậy ngoảnh lại, đôi mắt ngập nước long lanh.
“Phu quân là chê huynh trưởng thiếp chướng mắt sao?”
Chu Vọng Thanh nhíu mày: “Không phải…”
Ta ngắt lời hắn, phá lên cười trong nước mắt: “Vậy là ngài ủng hộ thiếp rồi, thiếp biết mà, phu quân đường đường là Lễ bộ Thượng thư, là người thấu tình đạt lý nhất.”
5
Chu Vọng Thanh ý định khuyên can ta bất thành.
Kẻ thống khổ nhất chính là Chu Hành.
Mà đáng sợ hơn là, gió trong phủ đã đổi chiều.
Thuở ta mới gả vào đây, hạ nhân thỉnh thoảng liếc nhìn, trong mắt đều chất chứa sự đồng cảm. Bởi lẽ ai nấy đều rõ Chu Vọng Thanh nặng lòng với nguyên phối Cố thị đến nhường nào.
Thế nhưng dần dà, sự đồng cảm ấy đã hóa thành lòng cảm kích và kính sợ.
Sau khi nhập phủ, mẹ chồng giao lại quyền quản gia cho ta.
Ta dựa theo nếp cũ, định ra những quy chuẩn thưởng phạt phân minh hơn trước. Không chỉ tăng thêm các đợt nghỉ ngơi, ta còn lập ra ngân khoản bù đắp cho gia quyến hạ nhân.
Đám tôi tớ cảm thấy điểm tâm ngon miệng, lại càng cảm niệm ân đức của ta.
Duy chỉ có Chu Hành là chẳng ưa, nó chỉ thấy nhạt nhẽo như nhai sáp. Ngày ngày nuốt không trôi, nó đã lén vứt bỏ không biết bao nhiêu lần.
Hôm ấy bị ta bắt quả tang, Chu Hành rốt cuộc không kìm nén được mà bộc phát.
Nó gào thét: “Ta chính là không ăn, bà làm gì được ta? Thiên kinh địa nghĩa cái gì mà bắt ta ngày ngày đi điếu niệm một người chết, chẳng phải bà muốn làm mẹ ta, muốn cha ta sủng ái bà đó sao?”
Ta thở dài: “Hành nhi, con nghĩ lệch lạc rồi.”
“Con nghĩ về ta thế nào không quan trọng, nhưng tấm lòng của cữu cữu, sao con nỡ lòng phụ bạc?”
Chuyện này râm ran truyền ra ngoài, ngay cả trong viện của lão phu nhân cũng có người xầm xì:
“Tân phu nhân tuy hành sự có chút đặc biệt, nhưng suy cho cùng vẫn là người có hiếu tâm, còn tiểu thiếu gia quả là được nuông chiều quá mức rồi…”
Đêm đó, Thu Sương sai người thám thính được Chu Vọng Thanh đã tới gian viện cũ mà Cố Nguyệt Lan từng ở. Nơi ấy vẫn được giữ nguyên trạng, không hề suy suyển.
Cũng chẳng có gì đặc sắc, chỉ là hắn cảm thán bản thân không chăm sóc tốt cho con trai, cảm thấy hổ thẹn với Cố thị rồi lại lảm nhảm hồi lâu về tình nghĩa đôi bên.
Ta nghe mà thấy vô vị, phất tay bảo Thu Sương đừng nói tiếp, trong lòng đã có tính toán riêng.
Ngày hôm sau, ta đề nghị với Chu Vọng Thanh: “Hành nhi đã tám tuổi, đến lúc phải học hành quy củ và bản lĩnh đàng hoàng. Thiếp thấy đám tiểu sai bên cạnh nó quá đỗi dung túng, hay là đổi sang hai đứa vững chãi hơn?”
Chu Vọng Thanh nhìn ta đăm đăm: “Quanh nó đều là người cũ, dùng đã quen tay.”
Ta chẳng chút e dè mà nhìn lại hắn: “Chính vì dùng đã quen tay, mới khiến nó thành ra nông nỗi này.”
“Ở Thẩm gia ta, nam tử từ nhỏ đã phải hiểu chuyện. Huynh trưởng ta năm tám tuổi đã theo cha ra biên thùy rồi. Phu quân hãy nhìn Hành nhi mà xem, nếu Nguyệt Lan tỷ tỷ dưới suối vàng có linh thiêng, hẳn cũng chẳng muốn chàng quá đỗi nuông chiều mà nuôi dạy nó thành kẻ phế vật.”
Chu Vọng Thanh nổi giận, đập mạnh xuống bàn: “Thẩm Diệu Âm!”
“Thiếp ở đây. Thiếp đã gả cho chàng, Hành nhi chính là con đẻ của thiếp, vì con cái mà mưu tính sâu xa.”
“Phu quân nếu tin tưởng thiếp, thiếp sẽ thay nó chọn lấy hai đứa, bảo đảm dạy nó biết điều, hiểu lễ nghĩa.”
Ta nhìn thẳng vào mắt Chu Vọng Thanh.
Cuối cùng, hắn đành bại trận: “Tùy nàng liệu tính.”