Lưu Mẫn mặc đồ bệnh nhân sọc trắng xanh, ngồi bên giường cười ngây ngô với cửa sổ, miệng lẩm bẩm mãi:
“Túi xách của tôi… Hermès của tôi… đừng giành túi của tôi…”
Giang Nhạc lao đến ôm lấy bà ta, khóc như xé ruột:
“Mẹ! Mẹ! Con là Nhạc Nhạc mà! Mẹ nhìn con đi!”
Nhưng Lưu Mẫn không có bất kỳ phản ứng gì.
Cô ta sống trong thế giới riêng, mãi mãi không thể quay lại nữa.
Rời khỏi bệnh viện, Giang Nhạc như thể hồn phách đã bị rút cạn, ngây dại thất thần.
Tôi đưa nó đến căn hầm tối tăm mà Giang Vĩ đang thuê.
Anh ta ra mở cửa, vừa thấy chúng tôi thì sững người, sau đó mặt lập tức hiện lên vẻ chán ghét.
Anh ta chẳng thèm liếc con gái lấy một cái, mà quay thẳng sang tôi, chìa tay ra:
“Tiền đâu? Bà không phải trở về rồi sao? Có mang tiền không?”
Trong mắt anh ta, chỉ còn lại tiền.
Giang Nhạc nhìn bố mình không dám tin – người mà nó từng ngưỡng mộ và nương tựa cả tuổi thơ.
“Ba… con là Nhạc Nhạc mà…”
“Đừng gọi tôi là ba! Tôi không có đứa con gái như cô!” – Giang Vĩ gắt lên, xua tay xua chân như đuổi tà. – “Nếu không phải tại cô, nhà này có ra nông nỗi này không? Cô là đồ sao chổi!”
Nói xong, anh ta “rầm” một tiếng đóng sầm cửa lại.
Bỏ tôi và Giang Nhạc ngoài hành lang tối tăm, ẩm thấp.
Giang Nhạc đứng lặng trong ánh đèn mờ nhòe, cuối cùng cũng không nhịn nổi nữa, ngồi bệt xuống đất, ôm mặt khóc nức nở.
Gia đình nó, cha mẹ nó, những thứ từng là cả thế giới của nó – giờ tất cả đã tan tành.
14
Giang Nhạc không còn nơi nào để đi, cuối cùng vẫn là tôi cho nó ở lại tứ hợp viện.
Tôi dọn dẹp lại căn phòng phía Tây để nó ở, cách phòng chính của tôi một sân nhỏ, tránh va chạm không cần thiết.
Nó dường như… thật sự đã thay đổi.
Không còn là cô tiểu thư quen được chiều chuộng, sai khiến người khác. Nó trở nên trầm lặng, dè dặt, ngày ngày chủ động làm tất cả việc trong sân:
Quét dọn, lau bụi, tưới hoa, thậm chí còn tập tành nấu ăn.
Tuy nấu dở đến mức khó nuốt, tôi cũng không nói gì.
Bởi tôi hiểu, nó đang cố chuộc lỗi theo cách của riêng mình.
Tôi không nặng lời với nó, cũng chẳng tỏ ra thân thiện. Mối quan hệ giữa chúng tôi giống như hai người xa lạ cùng sống dưới một mái nhà, lịch sự, nhưng xa cách.
Hằng ngày tôi đến trường, bận rộn với công việc ở trung tâm nghiên cứu. Cố Ngôn cũng thường xuyên đến viện thăm tôi, cùng uống trà, trò chuyện học thuật, nói chuyện đầu tư và triết lý sống.
Anh giống như một tia nắng, chiếu vào quãng đời xế chiều bình lặng của tôi, mang đến những gam màu tươi mới và sinh khí.
Mỗi lần thấy Cố Ngôn, Giang Nhạc lại lặng lẽ trốn về phòng.
Nó… có lẽ là tự ti.
So với một người trẻ tuổi ưu tú, chín chắn, phong độ như Cố Ngôn, niềm kiêu hãnh mong manh còn sót lại trong nó chẳng đáng là gì.
Một hôm, sau khi Cố Ngôn rời đi, Giang Nhạc bất ngờ gọi tôi lại giữa sân:
“Bà nội…”
Tôi dừng bước, quay đầu nhìn nó.
Nó cúi gằm mặt, hai tay xoắn lấy vạt áo, ngập ngừng rất lâu, mới lắp bắp:
“Bà nội… con muốn… con muốn ra ngoài tìm việc làm…”
“Ồ?” Tôi có phần ngạc nhiên. “Vậy con định làm gì?”
“Con… con không biết.” – Nó lắc đầu, bối rối. – “Con chẳng biết làm gì cả… tiếng Đức giờ cũng gần như quên hết… con…”
Nói đến đây, giọng nó bắt đầu nghèn nghẹn, sắp bật khóc.
Phải, một đứa trẻ từng được nuôi lớn bằng tiền và lời nịnh nọt, ngoài tiêu tiền thì chẳng còn kỹ năng nào.
Ngay cả khả năng mà nó từng tự hào nhất – tiếng Đức – đứng trước người thực sự am hiểu, cũng chỉ là trò hề.
Tôi nhìn dáng vẻ mờ mịt, yếu đuối của nó, trong lòng thoáng một chút mềm lòng.
“Trong thư phòng bà có đủ bộ giáo trình tiếng Đức, từ sơ cấp đến cao cấp. Còn có rất nhiều sách gốc.” – Tôi nói giọng bình thản. – “Nếu con thật sự muốn bắt đầu lại, thì học lại từ đầu. Đến khi nào con dịch trọn vẹn bản gốc Faust của Goethe, rồi viết một bài cảm nhận không dưới 10.000 chữ, lúc đó hãy quay lại nói chuyện công việc.”
Nói xong, tôi xoay người đi vào phòng, không ngoảnh lại.
Tôi không biết nó có làm được không, càng không chắc nó có kiên trì nổi không.
Nhưng đó là cơ hội cuối cùng tôi dành cho nó.
Nắm được hay đánh rơi, là chuyện của nó.
Ngoài dự đoán của tôi, Giang Nhạc thật sự bắt đầu học.
Từ hôm đó, nó gần như ở lì trong phòng, chỉ ra ngoài khi cần làm việc nhà.
Còn lại toàn bộ thời gian, đắm mình trong thư phòng, ôm lấy đống sách tiếng Đức của tôi, không rời.
Tôi đã vài lần thức dậy giữa đêm để lấy nước uống, đều thấy đèn trong phòng Giang Nhạc vẫn sáng.
Nó giống như một tín đồ khổ hạnh tận tụy, dùng phương thức gần như tự ngược đãi để chuộc lại những sai lầm của mình năm xưa.
Ngày qua ngày, cuộc sống cứ thế tiếp diễn.
Thu đi, đông đến, lá trên cây lựu giữa sân cũng rụng sạch.
Hôm ấy, tôi vừa từ trường về, vừa bước qua cửa thì thấy Giang Nhạc đang đứng chờ giữa sân.
Nó gầy hơn trước rất nhiều, nhưng trong ánh mắt không còn sự mờ mịt và trống rỗng, mà thay vào đó là một ánh sáng sâu lắng – thứ ánh sáng chỉ có được sau khi từng ngã, từng tỉnh, từng gột rửa chính mình.
Nó cầm trên tay một tập bản thảo dày cộp, hai tay dâng lên trước mặt tôi.
“Bà nội… con… con đã dịch xong rồi. Đây là… bài cảm nhận của con.”
Giọng nó khàn khàn, mang theo cả hồi hộp lẫn mong chờ.
Tôi nhận lấy xấp giấy.
Đó là bản viết tay, chữ ngay ngắn, nắn nót. Có thể thấy nó đã viết rất chăm chút, thậm chí có vài chỗ ấn bút mạnh đến mức rách cả giấy.
Tôi không đọc ngay, chỉ gật đầu:
“Để đó đi, lát nữa bà xem.”
Thái độ điềm tĩnh của tôi khiến ánh sáng trong mắt nó vụt tắt.
Nó lặng lẽ cúi đầu, quay về phòng mình.
Tối hôm đó, tôi ngồi trong thư phòng, dưới ánh đèn bàn, tỉ mỉ đọc từng trang bản dịch và bài cảm nhận của nó.
Thành thật mà nói – vẫn còn non.
Rất nhiều chỗ dịch còn quá thô sơ, chưa nắm bắt được cái hồn của nguyên tác. Bài cảm nhận thì giống một sự trút bỏ cảm xúc cá nhân hơn là một bài luận học thuật.
Nhưng tôi có thể thấy được – nó thật sự đã bỏ tâm huyết.
Nó đọc, nó suy nghĩ, và nó cố hiểu.
Thậm chí trong một vài đoạn, còn có góc nhìn khá mới mẻ, khiến tôi bất ngờ.
Có lẽ… đứa trẻ này, không đến nỗi hoàn toàn vô vọng như tôi từng nghĩ.
Sáng hôm sau, tôi gọi nó vào thư phòng.
Tôi chỉ cho nó từng lỗi sai, từng điểm thiếu sót trong bản thảo.
Tôi cứ nghĩ nó sẽ thất vọng, hoặc tỏ ra không phục.
Nhưng không.
Nó lặng lẽ cầm bút, chăm chú ghi chép, lâu lâu gật đầu, đúng như một học trò nhỏ khiêm tốn nhất.
“Vấn đề lớn nhất của con là quá vội vàng, nền tảng chưa vững.” – Tôi kết luận. – “Từ mai, theo bà đến trường. Làm trợ giảng. Bắt đầu từ những việc nhỏ nhặt nhất như sắp xếp tài liệu, in ấn giấy tờ.”
Giang Nhạc ngẩng phắt đầu lên, không tin vào tai mình:
“Bà… bà nội, ý bà là…”
“Bà chỉ cho con thời gian thử việc ba tháng.” – Tôi ngắt lời. – “Làm không tốt, bất cứ lúc nào cũng có thể nghỉ.”