Vừa nói, hắn vừa che mặt òa khóc, tựa như đang trút bỏ mọi uất nghẹn tích tụ trong lòng bấy lâu.
Ai… cái đứa ngốc này.
Ta thở dài trong lòng, rốt cuộc vẫn không nỡ, buông dao xuống, tiến lên ôm chặt lấy hắn.
“Hoàng tỷ… hu hu hu…”
Hắn khóc càng lúc càng dữ, như đứa trẻ bị ấm ức quá lâu, rốt cuộc cũng tìm được nơi trút giận.
Kiếp trước, ta cũng mang theo suy nghĩ y như hắn, cố chấp gả cho Triệu Tùng Lệ, để rồi bị hiện thực tát cho một cái đau điếng — sai lầm ấy, sai đến thê thảm.
Ta vỗ về tấm lưng đang run lên vì khóc của hắn, dịu giọng nói:
“Thế gian này vốn dĩ chẳng có gì là công bằng cả. Đệ xem, chúng ta chẳng cần lao động vẫn được ăn cao lương mỹ vị, điều ấy với người nông dân có công bằng chăng? Chúng ta chẳng phải xông pha chiến trường, nhưng lại nắm quyền sinh sát trong tay — thế có công bằng với những tướng sĩ ngoài sa trường không?...
Tùy quốc cường đại gấp trăm lần nước ta, nếu họ muốn nuốt chửng nước Vinh, dễ như trở bàn tay. Hiện tại họ chỉ xin cưới một công chúa, liền chịu ký minh ước hòa hảo, đình binh, thông thương — đây là cơ hội ngàn năm khó gặp.
Chuyện lần này, đệ không thể tùy hứng, càng không có tư cách để tùy hứng.
Đệ phải vui vẻ tiễn ta xuất giá, hơn nữa, còn phải phò tá phụ hoàng, khiến nước Vinh ta dần dần mạnh lên. Để rồi một ngày kia, nữ tử trong thiên hạ sẽ không còn bị đem ra hy sinh vì quyền thế, vì gia tộc. Để bách tính không còn cảnh tiễn người thân ra chiến trường, sinh ly tử biệt…
Được không?”
“…Được.”
Vĩnh An nức nở nghẹn ngào, rốt cuộc cũng gật đầu đáp ứng.
6
Khi chúng ta bí mật quay về hoàng cung, mọi thứ vẫn y nguyên như cũ, đến cả Lục La – người gần gũi với ta nhất – cũng không mảy may phát hiện điều gì khác lạ, tựa như cuộc xuất cung này chưa từng xảy ra.
Điều đó khiến ta có phần kinh ngạc. Phải biết rằng trong nội cung, muốn che giấu hành tung của hoàng tử công chúa, quả thực là chuyện nghịch thiên. Song lúc này, ta không còn lòng dạ nào để truy xét kỹ càng…
Bởi vì — ta trông thấy Triệu Tùng Lệ đang ôm lấy Vĩnh An.
Tuy kiếp trước đã lờ mờ đoán được mối quan hệ giữa hai người họ không đơn thuần, nhưng tận mắt chứng kiến cảnh họ ngang nhiên ôm nhau trước mặt ta, ta vẫn nhất thời khó mà tiếp nhận nổi.
“Triệu Tùng Lệ! Ngươi thật to gan, mau buông ta ra!”
Vĩnh An không rõ là tức hay thẹn, khuôn mặt đỏ bừng, vùng vẫy muốn đẩy hắn ra.
Nào ngờ Triệu Tùng Lệ vốn luôn mang tiếng thư sinh ôn nhu yếu đuối lại chẳng hề nhúc nhích, trái lại còn siết chặt hơn:
“Ôn Vĩnh An, ngươi vẫn chưa chịu ngoan ngoãn đúng không?”
Vĩnh An thoáng chột dạ, giọng có phần thiếu khí thế nhưng vẫn gân cổ cãi:
“Ngươi nói ai không ngoan! Còn chưa tính sổ chuyện ngươi đi tố cáo ta với hoàng tỷ…”
…
Ta lặng lẽ lui khỏi điện, nhường lại không gian cho hai người.
Ngồi xuống chiếc bàn đá trước điện, ký ức kiếp trước lại trỗi dậy, đưa ta về thời khắc ta lần đầu phát hiện ra thứ tình cảm đặc biệt giữa hai người họ.
Khi ấy, tin Vĩnh An tử trận vừa truyền về. Để ổn định lòng dân, phụ hoàng giấu kín sự thật, chỉ âm thầm sai người đưa đến phủ công chúa một khối ngọc bội dính máu.
Đó là tín vật mỗi hoàng tử công chúa từ lúc chào đời đã mang theo bên mình — chỉ cần nhìn thấy, ta liền hiểu chuyện gì đã xảy ra. Trong cơn đau đớn tột cùng, ta ngất đi tại chỗ.
Tỉnh dậy, trước mắt ta là Triệu Tùng Lệ ngồi bất động bên giường, tay siết chặt lấy khối ngọc ấy, sắc mặt tiều tụy, đôi mắt đỏ rực, cả người như thể mất đi linh hồn. Khi ấy, ta ngỡ hắn không chịu nổi nỗi đau mất huynh đệ thuở thiếu thời.
Mãi đến khi phụ hoàng lệnh cho chúng ta thu xếp những vật mà Vĩnh An thường yêu thích để lập mộ y quan cho đệ ấy, trong ám các cạnh giường của Vĩnh An, ta tìm thấy một chiếc hộp gỗ đàn hương — bên trong là tất cả lễ vật mà Triệu Tùng Lệ từng tặng.
Ở đáy hộp, có một bức họa vẽ nghiêng khuôn mặt Triệu Tùng Lệ lúc đang đọc sách. Bên mép bức họa là nét chữ quen thuộc:
"Ký kiến quân tử, vân hồ bất hỷ."
(Đã gặp quân tử, sao lại chẳng vui.)
Ta nhận ra nét bút kia chính là của Vĩnh An. Lúc đó, ta ngồi bệt xuống đất, run rẩy không nói nổi lời nào.
Một đôi tay vươn ra định lấy bức họa từ tay ta, ta theo bản năng muốn giấu đi, không để Triệu Tùng Lệ phát hiện ra tâm tư của Vĩnh An. Nhưng chưa kịp phản ứng, hắn đã cầm lấy bức họa, ôm chặt, bật cười như điên như dại.
“Ha ha ha… Ký kiến quân tử, vân hồ bất hỷ… Ha ha ha… Hảo một câu ‘vân hồ bất hỷ’…”
Hắn vừa cười, vừa ôm lấy bức họa quỳ xuống đất, gục đầu bật khóc.
Chỉ một thoáng, ta đã hiểu ra tất cả.
Hôm đó, ta cũng giống như bây giờ — lặng lẽ rời khỏi tẩm thất của Vĩnh An, ngồi lặng trên hành lang suốt đêm. Triệu Tùng Lệ trong phòng khóc mãi không ngừng, đến sáng hôm sau bước ra, tóc đã bạc trắng.
Hắn nhìn ta vẫn đang ngẩn ngơ nơi đó, đuôi mắt đỏ hoe:
“Xin lỗi, A tỷ.”