5.
Đội ngũ đưa sính lễ từ phủ Bình Dương hầu oai vệ rầm rộ kéo đến, rồi lại theo đúng con đường cũ trở về, một lần đi một lần về, vòng quanh gần nửa kinh thành.
Chưa tới nửa ngày, khắp kinh thành đã ồn ào bàn tán về chuyện thế tử bỏ trốn trong ngày cầu hôn.
Hôn thư bị trả lại, mối hôn sự này coi như hoàn toàn tan vỡ.
Lời đồn nổi lên tứ phía. Có kẻ nhiều chuyện dò hỏi ra rằng, Tạ Hoài Chương bỏ trốn chỉ vì người đường muội bên nhà mẹ hắn, rồi còn có người trực tiếp chầu chực ở cổng thành để xem trò cười.
Nghe nói, lần này xe ngựa của Sở Vãn Nguyệt vừa ra khỏi thành hơn mười dặm, Tạ Hoài Chương đã giục ngựa như bay đuổi theo đoàn xe.
Hắn gặp lại người mà mình đêm ngày mong nhớ, mất rồi lại được, liền nâng niu như châu ngọc.
Hai người cùng cưỡi một ngựa trở về thành, cử chỉ dịu dàng, lời lẽ thâm tình, trông chẳng khác gì một đôi uyên ương khổ mệnh từng bị người chia cắt.
Chuyện hoang đường phong lưu của thế tử Bình Dương hầu trong nháy mắt đã lan khắp kinh thành.
Chỉ ít lâu sau, thánh chỉ của Hoàng hậu cũng hạ xuống. Người nghiêm khắc trách phạt Tạ Hoài Chương, phạt hắn hai mươi quân côn, lại tuyên rằng Sở Vãn Nguyệt tư đức bất chính, lệnh cấm túc nàng ta.
Đồng thời, Hoàng hậu còn ban xuống châu báu, gấm vóc đến Giang phủ để tỏ ý trấn an.
Thế nhưng, sau khi chịu phạt, Tạ Hoài Chương vẫn ngang nhiên tuyên bố – chỉ cưới một người, thà chết cũng không cưới con gái nhà họ Giang.
Dù lưng hắn đã bị đánh đến mức máu thịt be bét, hắn vẫn nghiến răng thề độc:
“Cả đời này ta chỉ cưới Vãn Nguyệt. Nếu ta thất hứa, xin trời đất để ta không được chết yên lành!”
Lời đồn trong kinh thành càng lúc càng dữ dội, không ít quý nữ âm thầm chế giễu ta.
“Giang Vân Thư nàng ấy xuất thân cao quý, được Hoàng hậu ưu ái thì sao chứ? Cuối cùng vẫn bị hủy hôn thôi.”
“Thế tử Bình Dương hầu thà cưới một đường muội chẳng có chút gia thế còn hơn lấy nàng, thật đáng đời!”
“Không biết nàng ấy là loại hán phụ gì, mà khiến thế tử chán ghét đến vậy – ta xem sau này còn ai dám cưới nàng nữa hay không!”
Ta thoáng chốc trở thành trò cười khắp kinh thành.
Tướng phủ xưa kia khách khứa nườm nượp, bậc thềm bị bà mối giẫm đến mòn, vậy mà nay lại vắng lặng đến nỗi tiếng gió cũng nghe thấy.
“Tiểu thư, sao họ có thể nói người như vậy, thật quá đáng…”
Xuân Lan và Hạ Trúc bất bình thay ta, giọng đầy phẫn uất, nhưng ta chỉ khẽ lắc đầu, ngón tay mân mê cành hoa trong chiếc bình sứ.
“Miệng ở trên người khác, họ muốn nói thì cứ để họ nói thôi.”
Thấy ta như vậy, hai đứa nhìn nhau, Hạ Trúc rụt rè mở lời:
“Nô tỳ cảm thấy… mấy ngày nay tiểu thư trông trầm ổn hơn trước nhiều.”
Khóe môi ta hơi cong, “cạch” một tiếng, ta cắt bỏ nhánh hoa thừa, chẳng đáp lời.
Hậu viện của hầu phủ từng lạnh lẽo đến thế – đời trước, ngoài những dịp lễ nghi, Tạ Hoài Chương hiếm khi bước vào sân của ta. Dù thiếu nữ tươi vui đến đâu, những ngày tháng lặng như nước chết ấy cũng bào mòn hết thảy.
Giờ được trời thương cho sống lại, cha mẹ an khang, gia đình yên ấm, ta chẳng bận tâm người ngoài nói gì.
Chỉ là, người mà kiếp trước lẫn kiếp này ta nợ, từ đầu tới cuối, vẫn chỉ có một.
Ý nghĩ miên man, thì bên cửa sổ bỗng vang lên tiếng gõ nhẹ.
Ba dài hai ngắn – rồi im bặt.
Ta chợt ngẩng đầu, đối diện đôi mắt đào hoa ánh lên sự lo lắng và căng thẳng.
“A Thư?”
Thiếu niên mặt mày như ngọc, mái tóc buộc cao sau gáy, kẻ vốn luôn phóng khoáng kiêu ngạo ấy giờ lại cúi đầu, đôi tai đỏ ửng, từng chữ một chắc nịch:
“Ta không sợ những lời đồn ngoài kia – chỉ vì họ không biết nàng tốt đến thế nào.”
“A Thư… ta sẽ cưới nàng.”
6.
Ta sững sờ rất lâu.
Đã bao lâu rồi ta không gặp lại Cố Hằng?
Mười năm, hai mươi năm… hay đã qua cả ba mươi năm?
Dáng vẻ hắn trèo tường vào tìm ta, thoáng chốc như thể chuyện của kiếp trước.
Xuân Lan và Hạ Trúc đã khéo léo lui ra ngoài.
Hắn thấy ta im lặng mãi, tưởng ta không đồng ý, liền lúng túng, vội vàng lục tìm trong lòng áo, lấy ra từng món từng món.
“Là thật đấy, nàng xem này, đây là món gỗ nhỏ nàng tạc lần đầu cho ta, còn có cả túi hương nàng thêu, cả chiếc đèn hoa chúng ta thắng được khi đi chợ hội…”
“Những thứ này ta đều giữ gìn cẩn thận. Tạ Hoài Chương chỉ là kẻ mắt mù tim mù, hắn không biết trân trọng nàng, vậy đừng gả cho hắn.”
“Ta đã theo cha luyện rèn mấy năm, ta sẽ nỗ lực lập công ngoài sa trường, xin cho nàng một đạo sắc phong. Đến lúc đó, chúng ta mở một cánh cửa nhỏ trong sân, nàng vẫn có thể như thuở chưa xuất giá, tùy thời về quỳ dưới gối bá phụ bá mẫu, nhận hết yêu thương như con gái trong nhà.”
Ánh mắt hắn khi ấy nghiêm túc đến lạ, mang theo sự trong trẻo chỉ có ở những chàng thiếu niên.
Nhìn hắn, ta bỗng nhớ đến ngày xuất giá của kiếp trước.
Hôm đó, con bạch mã nhỏ mà ta và Cố Hằng từng cùng nhau cho ăn đã lẽo đẽo đi theo đội ngũ đưa dâu, mãi đến tận rất xa, rất xa.
Khi ta bước xuống kiệu hoa, Tạ Hoài Chương không đưa tay đỡ ta, ta chỉ có thể siết chặt tấm hồng lụa trong tay, lòng ngổn ngang bất an.
Miệng mối mai không ngừng buông lời cát tường:
“Đào hoa rực rỡ, vợ chồng thuận hòa, con đàn cháu đống, phúc lộc dài lâu—”
Ta cúi đầu hành lễ, lại trông thấy vạt áo quen thuộc ấy dần dần khuất xa.
Ta không ngờ, đó lại là lần cuối cùng chúng ta gặp nhau.