Binh sĩ bán tín bán nghi, cuối cùng vẫn quay người đi bẩm báo.
Ta kéo A Việt đứng trú mưa, lau nước mưa trên mặt con.
Đúng lúc ấy, một tiếng sấm lớn nổ vang.
Ta giật nảy mình, sống lưng lạnh buốt.
Cửa chủ trướng bỗng “rầm” một tiếng bị vén lên, ta theo tiếng nhìn qua, đúng lúc sấm sét ch.ói lòa.
Người kia âm trầm nhìn ta.
Như lệ quỷ, răng nghiến lập cập.
Hắn nói:
“Trần Phạn, ngươi còn sống mà dám tới tìm ta. Chẳng phải ta đã nói rồi sao — lần sau gặp lại, nhất định khiến ngươi sống không được, c.h.ế.t không xong.”
“Triệu Diễm.”
Mười năm xa cách, chỉ một tiếng gọi tên đã khiến khí lạnh trên người hắn càng nặng. Nhưng khoảnh khắc sau, khi hắn nhìn rõ bộ dạng t.h.ả.m hại của ta, lại như bị dội một chậu nước lạnh, giọng đột ngột nghẹn lại.
Ta ngẩng đầu, lộ gương mặt trắng bệch đến đáng sợ, bình thản nói:
“Ta… không còn đường nào để đi nữa.”
Hôn ước năm xưa, đã cách bao năm tháng. Huống chi khi chia tay hắn năm đó, cũng chẳng lấy gì làm vẻ vang.
Triệu Diễm tuy không phải sĩ tộc, nhưng ngạo khí chẳng kém Tạ Bùi.
Chỉ là… ta thật sự đã đường cùng lối tận.
Mưa đêm như thác đổ, gió càng lúc càng gào thét.
Toàn thân đau nhức, lạnh thấu xương, lại còn mang theo đứa trẻ, bên ngoài vẫn là loạn thế.
Vài nhịp thở trôi qua trong im lặng. Trong lòng ta đã có đáp án, đang định dắt A Việt rời đi.
Thì bị binh sĩ cầm kích chặn lại.
“Trần Phạn.”
Ta quay đầu.
Nửa thân hắn ngập trong mưa, sắc mặt u ám không rõ, giọng nói tàn nhẫn lạnh lẽo:
“Hôn ước vẫn tính. Ta cưới ngươi. Con trai ngươi ta nuôi. Trong loạn thế này, chỉ cần có Triệu Diễm ta, thì sẽ có cho ngươi một khoảng trời tự tại.”
Ta liền hỏi:
“Vậy… ngài muốn ta làm gì?”
Người ta cưới vợ ắt có mưu cầu — hoặc cầu hiền thê trợ lực, hoặc liên hôn tăng thế. Chúng ta đều không còn là thiếu niên nam nữ nữa. Ta cầu che chở, Triệu Diễm ắt cũng có điều kiện.
Nhưng hắn khựng lại. Trong cái lạnh lẽo ấy, lại lẫn một tia khàn đặc:
“Ta muốn người — bất kể sống c.h.ế.t, đều ở bên ta. Vĩnh viễn không bỏ ta.”
05
Một năm lưu lạc phiêu bạt, lại gặp mưa lớn. Đêm đó ta phát sốt, hôn mê nhiều ngày.
Trong mộng, chẳng qua cũng chỉ là chuyện cũ.
Những năm đầu mới thành thân với Tạ Bùi, hắn từng từng tiếng gọi ta A Phạn. Khi tai tóc kề nhau, từng khởi ý hỏi ta vì sao mang cái tên ấy.
Ta liền nói, từng có một vị cao tăng đắc đạo, thấy ta căn cơ thông tuệ, e là thị nữ Quan Âm bên tòa Bồ Tát chuyển thế, nên lấy chữ “Phạn” trong câu “tịnh tu Phạn hạnh” của 《Diệu Pháp Liên Hoa Kinh》 đặt tên cho ta.
Hắn khen cái tên này thanh nhã thoát tục, rất hợp với ta.
Tạ Bùi là người chỉ để lộ tư tình trong chốn khuê phòng.
Ra khỏi cửa, hắn vẫn là Tạ Thập Tam Lang cao cao tại thượng, như tuyết trên trời trong miệng thế nhân, cũng là kẻ ghét nhất sự đắm chìm d.ụ.c vọng, chưa từng trước mặt người ngoài thiên vị ta.
Chỉ có một lần ấy.
Lễ hội Hoa Thần ở Lạc Dương, ngôi Quan Âm miếu mới do Tạ Bùi đốc tạo hoàn thành, ta tới dự lễ. Khi màn vải được kéo xuống, pho tượng Quan Âm trắng như ngọc kia… lại giống ta đến bảy phần.
Tạ Bùi vốn không tin thần Phật, thân phận lại cao quý, chẳng cần cùng mọi người quỳ bái. Nhưng hắn lại cúi người, tỉ mỉ, thành kính lau bụi trên tượng Quan Âm.
Ta hiếm khi thất thần như vậy.
Nhưng lai lịch cái tên của ta, lại chưa từng trong sạch đến thế.
Ta là đứa con di phúc, phụ thân chưa kịp đặt tên. Mẫu thân bệnh tật điên loạn, tự nhiên cũng chẳng chăm sóc được ta. Ta chỉ là đứa trẻ có họ không tên, gặp chuyện là hoảng sợ khóc — bị tộc tỷ giật tóc tát mặt thì khóc, thấy thúc phụ ức h.i.ế.p mẫu thân thì khóc, thấy mẫu thân tự vẫn… cũng khóc.
Cho tới khi tộc nhân vì muốn chiếm đoạt gia sản của ta, mới đem ta lên núi giao cho cao tăng “tu hành”.
Nói là tu hành, kỳ thực là thu gom đồng nam đồng nữ để luyện trường sinh đan. Mấy đứa trẻ trước đó, trong lò luyện bị thiêu đến xương cốt chẳng còn.
Ta rốt cuộc… không khóc nổi nữa.
Trước khi cao tăng dẫn ta vào lò, ta dốc hết sức, dùng cây trâm đã mài nhọn đ.â.m vào mắt hắn. Ta không đ.â.m trúng, nhưng hắn m.á.u me đầy đầu ngã xuống. Phía sau hắn, một nam hài cầm hòn đá nhuốm m.á.u — là đứa trẻ bị đưa tới sau ta.
Quần áo rách rưới, nhưng ánh mắt như sói. Nhìn một cái liền biết không phải sĩ tộc, mà là kẻ lang bạt tận cùng.
Ta sợ hắn sống lại, liền như phát điên đ.â.m thêm nhiều nhát, toàn thân đẫm m.á.u. Đến khi hoàn hồn, mới run rẩy không thành tiếng.
“Hắn c.h.ế.t rồi sao?”
Nam hài thản nhiên đáp:
“Không. Hắn viên tịch rồi.”
Chúng ta không g.i.ế.c người. Hắn chỉ là cảm ứng Phật tổ triệu hoán mà viên tịch, chỉ vậy thôi.
Trong chùa đèn sáng suốt đêm, trước tượng Phật chỉ đặt một quyển kinh cầu phúc. Nghe nói Tạ gia vì cầu phúc cho Thập Tam Lang, xuất tiền cho thiên hạ Phật tự đúc kim thân, đốt dầu hương — chỉ cần cung phụng cái tên Tạ Thập Tam.
Trời vực khác nhau, không gì hơn thế.
Máu b.ắ.n lên quyển kinh, vừa khéo rơi đúng vào một chữ ‘Phạn’.
Vậy nên ta tên Trần Phạn.
Triệu Diễm là người đầu tiên biết ta gọi là A Phạn. Hắn gầy gò, nhưng nhẹ nhàng kéo xác cao tăng vào lò thiêu hủy, rồi đứng vững bên ta, thấy ta nhắm mắt quỳ trước Phật cầu nguyện.
Hắn cười nhạo:
“Kẻ ngốc mới tin thần Phật.”
Chỉ một câu ấy, lại khiến nước mắt ta như đứt dây mà rơi, nghẹn ngào không nói được.
Rõ ràng lúc nãy sợ đến thế còn không rơi giọt lệ nào, lúc này lại khóc như mưa.
“Cha mẹ ta c.h.ế.t rồi, gia sản bị chiếm hết, tộc nhân hận không thể tự tay g.i.ế.c ta. Nếu ta trở về, nhất định bị nuốt đến xương cốt cũng chẳng còn. Ngươi ngay cả việc ta cầu thần bái Phật cũng không cho — vậy ai sẽ giúp ta?”
Hắn mím môi, đưa tay chạm vai ta.
Đúng lúc ta ngẩng đầu, hàng mi run rẩy, lệ rơi thành chuỗi:
“Ngươi có giúp ta không?”
Như nắm lấy cọng rơm cứu mạng cuối cùng.
Triệu Diễm còn chưa kịp đáp. Ta đã nghiêng đầu: