55
Ta dìu nhị thúc vào trong phòng.
Bên ngoài tiếng c.h.é.m g.i.ế.c rung trời động đất, thế mà ông lại thổ ra một ngụm m.á.u tươi.
Ta vội vàng lau sạch cho ông, bắt mạch xem xét, mới hay mạch tượng suy vi, là do nhiều ngày mỏi mệt cùng nỗi thương tâm quặn thắt, dẫn đến tâm mạch tổn thương, cần phải lập tức châm cứu.
Nhị thúc nhìn ta cầm kim châm vào huyệt, cười khổ:
“Mẫu thân ngươi nói đúng, Vinh nhi vốn không nên tòng quân, là ta hại nó rồi.”
Ta khẽ đáp:
“Ấy là đường hắn tự chọn, chẳng thể trách người.”
Nhưng ông chỉ lắc đầu, miệng không ngừng nhắc tới “Vinh nhi năm xưa ngoan ngoãn hiểu chuyện ra sao, thông minh lanh lợi thế nào”, chỉ trách bản thân quá nghiêm khắc, đã ép hỏng con mình.
Ta lặng lẽ hành châm, nhất thời chẳng biết đáp lời thế nào.
Trong mắt bậc làm cha mẹ, con cái nào chẳng là bảo bối?
Dẫu có phạm phải tội tày đình, cũng chỉ mong tìm cách chuộc lại lỗi lầm cho chúng.
Nhị thúc cũng vậy thôi.
Châm cứu xong xuôi, mà thần sắc ông vẫn không khởi sắc.
Ta nóng ruột, khẽ khuyên:
“Nhị thúc, mọi chuyện rồi sẽ qua, người phải có ý niệm cầu sinh mới giữ được mệnh.”
Nhưng ông lại thổ huyết lần nữa, cười khổ nói:
“Ta e là... gắng không nổi nữa rồi.”
Ông gọi ta lại gần, nhìn ta, ánh mắt phức tạp khôn cùng:
“Cũng may... nhà họ Phùng còn có ngươi.”
Ông lẩm bẩm như tự nói với mình:
“Nữ t.ử thì đã sao chứ... Phùng gia có ngươi, là còn có hi vọng…”
Nói đoạn, lệ vương nơi khóe mắt, giọng nghẹn ngào:
“Chung quy ta vẫn không sánh được với đại ca.”
Ta biết ông đã đến lúc thân thể đèn cạn dầu, lời lẽ bắt đầu hỗn loạn.
Lúc thì gọi đại ca, lúc lại gọi nhị thẩm, thoắt cái lại gọi mẫu thân.
Cảnh tượng ấy, giống hệt như tổ mẫu khi gần lâm chung.
Ta đứng bên giường, lòng chua xót, nhẹ giọng dỗ dành ông.
Ánh mắt Nhị thúc dần dần mờ đục, cuối cùng miệng cũng chỉ còn gọi được hai chữ “Vinh nhi”.
Thanh âm mỗi lúc một nhỏ, dần chìm vào yên tĩnh.
Trước khi nhắm mắt, ông căn dặn:
“Không cần đưa ta về Dương Châu, cứ chôn ta tại Phùng Đô là được… Vinh nhi cũng ở đây, ta xuống Địa phủ, còn có thể dạy dỗ nó lần nữa.”
Ta lau khô dòng lệ, dặn thị nữ ngoài cửa đi chuẩn bị lễ vật tang sự, còn mình thì vội chạy ra tiền tuyến cứu người.
Chiến tranh — ngay cả thời gian để đau buồn, cũng chẳng cho phép quá lâu.
Ta nén lại bi thương, lên thành lâu, thì thấy đợt tấn công lần này đã gần kết thúc.
Chỉ thấy Xung Uyên một mũi tên cắm ở tay trái, tay phải vẫn vung kiếm không ngơi nghỉ.
Ta vội bước lên, nhưng nàng đè tay ta xuống, ngăn không cho ta chữa trị.
Nàng từ trong lòng móc ra cuốn "Trung Liệt Sách", nhét vào n.g.ự.c áo ta:
“Ta không sao.”
“Phùng đại phu, bây giờ ngươi lập tức lên đường đi Lăng Châu, truyền tin khẩn, nhất định phải khiến họ phái viện binh gấp, ngày đêm không nghỉ tới đây!
Chúng ta… giữ không được bao lâu nữa đâu. Quân địch đại bộ phận sắp kéo tới rồi.”
Ta nhíu mày:
“Thế còn tướng quân?”
Nàng mỉm cười nhàn nhạt:
“Ta ở đây, thành này mới có thể giữ.
Ngày ta xin ra chinh chiến, bao người phản đối, lời đồn lời nhảm không ngớt,
Nhưng bảy năm nay, ta dùng chiến công hiển hách, dập tắt tất cả dị nghị.
Hôm nay cũng vậy, nếu ta đi rồi, về sau nữ t.ử muốn tòng quân, chỉ sợ đường lại càng gian nan.”
Ta gật đầu:
“Được.
Chỉ là… Nhị thúc vừa mới quy tiên, xin tướng quân hãy an táng chu toàn.”
“Tất nhiên rồi.” – Xung Uyên đáp.
Ta hiểu tín niệm trong lòng nàng, liền trang nghiêm thi lễ:
“Tướng quân, đao kiếm vô tình, nguyện người tự trọng.”
Xung Uyên hoàn lễ:
“Nếu có duyên gặp lại, ta nhất định mời ngươi đại hảo tửu một bữa, rượu ngon ta còn cất không ít ở kinh thành.”
Chúng ta không nói thêm lời nào nữa.
Ta xoay người, nhanh chóng rời khỏi thành lâu.
Mà Xung Uyên thì tiếp tục lao vào giữa chiến trường.
Bên cạnh nàng, chiến hữu từng người lần lượt ngã xuống,
Kẻ địch cũng từng tên từng tên đổ gục.
Rượu ngon trong chén dạ quang,
Muốn say, mà tiếng chiến trống giục rền vang.
Dẫu say ngả nơi sa trường, đừng vội cười chê,
Xưa nay tướng sĩ ra đi, mấy ai được về?
Ta cưỡi ngựa — là kỹ năng mới học chưa lâu,
Phi nước đại rời khỏi Phùng Đô.
Mặt trời lặn về tây, đỏ rực như máu.
Mất trọn năm ngày năm đêm không nghỉ, cuối cùng ta đến nơi.
Chiến mã cũng vì vậy kiệt sức mà c.h.ế.t.
Ta đem tin khẩn cấp báo cho Dư Cảnh Thắng.
Hắn nhận được, lập tức dẫn quân tiếp viện, hướng về Phùng Đô.
Còn ta — kiệt sức gục xuống, nằm liệt trên giường nửa tháng mới hồi phục.
Về sau, sử sách ghi chép về trận chiến Phùng Đô, đ.á.n.h giá cực kỳ cao.
“Nguyên Phong năm thứ ba mươi,
Tướng quân Xung Uyên dẫn năm ngàn binh cố thủ Phùng Đô,
Đại phá năm vạn quân Man,
Cho đến khi Chu Nhân Tông (khi ấy là Ngũ hoàng tử) đích thân mang viện binh đến, mới giải được nguy.
Xung Uyên cùng toàn bộ tướng sĩ đều t.ử trận,
Chu Khánh Tông căn cứ "Trung Liệt Sách" mà truy phong,
Cả nước treo cờ trắng tế điếu.”
Trận chiến ấy, được hậu thế tôn vinh là tấm gương điển hình trong việc “lấy ít thắng nhiều, tuyệt cảnh thủ thành”, đời đời khắc cốt ghi tâm.
Xung Uyên — không phụ kỳ vọng, c.h.ế.t vì đạo nghĩa, toàn vẹn thanh danh.
Chỉ tiếc thay…
Rượu ngon nàng cất giữ năm xưa ở kinh thành...
Ta… chẳng còn cơ hội uống được nữa.
57
Trên đất Phùng Đô, chỗ nào cũng vương vết máu.
Dư Cảnh Thắng ủ rũ một tháng trời.
Nhưng rốt cuộc hắn vẫn là đệ đệ ruột thịt của Xung Uyên, cốt cách kiên cường, chí khí không suy.
Hắn vừa nén bi thương, vừa tự thân đốc thúc, gia cố thành trì Phùng Đô, cho đến khi nơi này thật sự vững như thành đồng, nước đổ không vào.
Ngày hắn khởi hành hồi kinh, quay sang hỏi ta:
“Tỷ có muốn theo về không?”
Ta lắc đầu từ chối.
“Ta còn có con đường riêng của mình.”
Dư Cảnh Thắng khẽ cười, lau khô giọt lệ bên mắt:
“Tỷ và tỷ tỷ ta đều giống nhau,
Cứ thích tự rước khổ về thân…
Nhưng cũng đều là người xứng đáng được người đời kính ngưỡng.”
Hắn lên ngựa, bóng lưng kéo dài dưới ánh tà dương.
Trước khi rời đi, còn quay đầu vẫy tay với ta:
“Phùng đại phu, tỷ cứ yên tâm, ân cứu mạng, ta vẫn luôn khắc ghi trong lòng, ngày sau nhất định báo đáp.”
Ta cũng hướng về bóng lưng ấy vẫy tay:
“Giang hồ đường xa, hữu duyên tất tái kiến!”
59
Từ đó về sau, lại là mười năm nữa trôi qua.