10.
Được Tạ gia hộ tống, chúng ta nhanh chóng đến Thúy Lăng.
Quả nhiên Thúy Lăng đúng như lời Tạ Linh Độ nói, danh bất hư truyền.
Trải qua bao chuyện trên đường đi, ta cũng rút ra được kinh nghiệm: Muốn sống yên ổn, cần phải có một chỗ dựa vững vàng.
Ta thuê lại một cửa tiệm nhỏ, dự định mở một y quán.
Dù dân phong Thúy Lăng cởi mở, song định kiến đối với nữ y vẫn còn sâu sắc.
Ngày đầu mở cửa, trước y quán đã tụ tập một đám đông. Họ đứng xem, tò mò bàn tán, nhưng chẳng một ai bước vào khám bệnh.
Ta quan sát sắc mặt mọi người, thấy rõ sự hiếu kỳ, ngạc nhiên nhưng lại chẳng có khinh miệt hay chế giễu.
Thế thì dễ xử lý rồi.
A Man ủ rũ, khuôn mặt nhỏ nhắn nhăn nhó:“Tiểu thư, người không sốt ruột chút nào sao?”
Ta chỉ mỉm cười, viết mấy nét đơn giản trên tờ giấy, rồi nói:“Đừng đứng đấy than vãn nữa, mau đem phương thuốc này đi sắc đi.”
A Man liếc qua đơn thuốc, nghi hoặc hỏi:“Nguyên liệu là hạnh nhân, bạch thông thảo, trúc diệp, xích tiểu đậu… Tiểu thư, đây là phương thuốc gì vậy?”
Ta nhếch môi cười nhẹ:“Đoán thử xem?”
Ngày thứ hai, trước quán của ta, những chiếc bàn nhỏ đã xếp đầy từng ly trà thơm phức.
A Man đứng trước cửa, giọng lanh lảnh vang khắp phố:“Trà thanh mát, làm đẹp dưỡng nhan miễn phí đây—!”
Có người tò mò tiến lại gần, ngập ngừng hỏi:“Cô nương, trà này thật sự có thể dưỡng nhan, giúp đẹp da sao?”
Ta mỉm cười dịu dàng, ánh mắt chắc chắn:“Đương nhiên rồi.”
Thấy mọi người còn do dự, ta liền tự tay cầm một chén trà, uống cạn trước mặt họ.
“Các vị thân hữu đi ngang qua đây, sao không thử một chén xem sao?”
Một bà lão quan sát kỹ khuôn mặt ta, rồi bất ngờ đẩy người đứng chắn trước bà ra. Bà cất giọng to:“Nhìn làn da của cô nương này kìa, non mịn như nước vậy, biết đâu thực sự có tác dụng. Ta thử một chén!”
Những người khác thấy vậy cũng lần lượt tiến tới nhận trà.
Chẳng mấy chốc, quầy hàng nhỏ trước y quán đã náo nhiệt hẳn lên, tiếng cười nói không dứt.
Vài ngày sau, nhiều người bắt đầu nhận ra cơ thể nhẹ nhàng hơn, làn da cũng sáng sủa, tươi tắn hơn trước.
Tin tức nhanh chóng lan truyền khắp nơi, danh tiếng của y quán ngày một vang xa, người đến xếp hàng dài trước cửa.
A Man vừa soi gương vừa than thở, bĩu môi nói:“Ta cũng uống không ít trà dưỡng nhan đó, sao chẳng thấy đẹp lên chút nào?”
Ta bật cười, giải thích:“Ngươi vốn không bị nặng ẩm khí, uống vào sẽ không có tác dụng gì rõ rệt cả.”
A Man nghiêng đầu khó hiểu:“Ẩm khí là gì cơ?”
Ta chậm rãi nói:“Khí hậu Thúy Lăng ẩm ướt, cây cỏ xanh tốt quanh năm, lại nằm bên bờ sông lớn, ẩm khí và chướng khí đều rất nặng. Ngươi để ý xem, người dân ở đây phần lớn có thân hình đẫy đà, mặt bóng nhờn phù thũng, đó đều là triệu chứng của ẩm khí xâm nhập vào cơ thể.”
Ta mỉm cười bổ sung:“Cái gọi là trà dưỡng nhan, chẳng qua là một loại dược trà giúp trừ ẩm khí và thanh nhiệt hạ hỏa mà thôi.”
Bỗng nhiên, một giọng nói vang lên từ phía sau:“Cô nương quả là thông tuệ, không biết sư thừa từ đâu?”
Người vừa nói là một đạo sĩ râu bạc trắng, trông tiên phong đạo cốt.
Ta khẽ cúi người hành lễ, đáp:“Tiểu nữ không có sư phụ, chỉ là tự học mà thôi.”
Lão đạo sĩ vuốt vuốt chòm râu, gật đầu hài lòng:“Ồ, tự học thành tài sao? Bần đạo tên là Trương Trọng Sinh, là một đạo y. Nếu cô nương không chê, có nguyện bái ta làm thầy không?”
Ánh mắt của ông lộ rõ vẻ kỳ vọng.
Ta kinh ngạc ngẩng đầu nhìn ông, tim khẽ rung động.
Người đứng trước mắt ta hóa ra chính là Trương Trọng Sinh, vị đạo y danh chấn thiên hạ, hành tung lại tựa mây khói vô định.
Kiếp trước, Trung Nguyên từng bùng phát đại dịch, nhờ có ông mà dịch bệnh mới phần nào được kiểm soát.
Nhưng cuối cùng, ông lại nhiễm bệnh khi cứu chữa cho người khác mà qua đời.
Vì không có người kế thừa y thuật, khi dịch bệnh bùng phát lần nữa, bao sinh mạng đã chết thảm, không kịp cứu vãn.
Ta nhìn ông với vẻ thành kính, trịnh trọng nói:“Khúc Giang nguyện bái ngài làm thầy.”
Ông bật cười ha hả, đầy vui mừng:“Tốt, tốt lắm! Y thuật nhà họ Trương ta cuối cùng cũng có người kế nghiệp rồi.”
Nhiều năm sau—
Khi thầy sắp rời cõi trần, ông hỏi ta:“Khúc Giang, con có biết vì sao ta lại thu nhận con làm đồ đệ không?”
Ta lắc đầu.
Danh tiếng của thầy lẫy lừng khắp thiên hạ, người muốn bái sư học nghệ nhiều không đếm xuể.
Nếu xét về tư chất, ta cũng không phải người xuất sắc nhất.
Thầy mỉm cười, ánh mắt hiền hòa:“Có nhiều người nói ta tính tình kỳ quái, cả đời học được y thuật cao thâm nhưng lại chẳng chịu truyền thừa cho ai. Thế nhưng, sau nhiều năm hành y, ta đã nhìn thấu lòng người.
Đối với người làm nghề y, bất kể y thuật cao siêu đến đâu, điều quan trọng nhất vẫn là tấm lòng nhân nghĩa.”
Thầy khẽ thở dài:“Cây hoàng du có công dụng tiêu sưng giảm đau, là vật không thể thiếu trong mỗi nhà. Nhưng chính vì thế, các y thương lại tranh nhau nâng giá.”
“Năm ấy, ta đi ngang qua y quán của con, tất cả mọi nơi đều bán hai lượng, chỉ riêng con chỉ lấy có một văn tiền.”
“Bởi vì, giá trị thực của hoàng du, chỉ đáng một văn mà thôi.”
Nước mắt ta lặng lẽ trào ra, từng giọt rơi xuống không ngừng.
11.
Những ngày ở Thúy Lăng trôi qua rất nhanh.
Ban ngày, ta bận rộn khám bệnh tại y quán.
Buổi tối lại cặm cụi nghiên cứu y thư mà Trương tiên sinh để lại.
Ngoài ra, ta và A Man còn "nhặt" được một cô nương.
Tên là Xuân Hoa.
Cái tên thì quê mùa, nhưng người lại thanh tú, dịu dàng.
Chỉ tiếc số phận nàng không tốt, lúc chúng ta gặp nàng, nàng suýt bị tên hôn phu của mình dìm xuống ao.
Ta và A Man chẳng thể nào đứng yên nhìn chuyện ấy xảy ra, liền cứu nàng lên.
Từ đó, bên cạnh chúng ta lại có thêm một “cái đuôi nhỏ.”
Ngày tháng cứ thế lặng lẽ trôi qua, nhẹ nhàng như dòng nước, cũng xem như yên ổn.
Ngoại trừ việc thư từ của một người nào đó cứ tới tấp gửi đến, khiến lòng ta bận tâm không yên.