10.
Khang vương cũng có thể gả được: làm trắc phi mấy năm, rồi thành hoàng phi. Biết đâu sẽ như Hoàng hậu hiện nay, nuôi dạy vài người con, nhẫn nhục chịu đựng nhiều năm, chớp đúng thời cơ mà độc chiếm ngôi mẫu nghi. Rồi lại trải qua thêm nhiều năm tháng, biết đâu cuối cùng còn trở thành Thái hậu.
Khi ta bắt đầu thật lòng cân nhắc chuyện có nên gả cho Khang vương hay không, lại càng cảm thấy mịt mờ.
Thư Linh không hiểu nỗi âu lo của ta, vẫn còn hăm hở lập kế hoạch xem hôm nào đi gặp vị “tài tử” nào.
Ta lo đến nỗi chẳng muốn mở miệng, Thư Linh đành phải kìm lời, bao nhiêu câu đều nén vào bụng, nên tiếng lòng của nàng vang lên dồn dập, ý nghĩ cứ tung bay khắp nơi:
【Tiểu thư thật sự phiền muộn rồi. Thường mỗi ba ngày một bài thơ, vậy mà tháng này KPI còn chưa có lấy một bài. Đã lâu không được khen tiểu thư ngút trời, ta thấy thiếu thiếu.
Trời ơi, rốt cuộc thế đạo gì đây! Tiểu thư nhà ta vàng ngọc cao sang, dung nhan tựa tiên, trí tuệ tựa hoa… vậy mà lo ế ư? Mặt mũi nàng còn tái nhợt lo sầu kìa.
Gió thổi rồi, tập bản thảo của tiểu thư bay tứ tung. Ta nhặt, nhặt, nhặt… cất hết lại, biết đâu sau này có dịp cho Thuần An cư sĩ xem.】
Lại nghe đến “Thuần An cư sĩ”.
Từ tiếng lòng của Thư Linh, ta mới biết đến nhân vật xa lạ này.
Bà đã ngoài năm mươi nhưng tinh thần minh mẫn, phong thái hơn người, tài năng xuất chúng.
Thư Linh bảo Thuần An cư sĩ lừng danh thiên hạ, được hậu thế ngợi ca, nhưng ta trước giờ chẳng nghe tên.
Dù sao, chuyện ta có thể nghe được tiếng lòng của Thư Linh, mà nàng cũng có nhiều “kỳ ngộ”, xem ra cũng chẳng lạ. Thấy nàng ăn uống ngủ nghỉ bình thường, không hề như kẻ mắc chứng cuồng, nên ta cũng chẳng để tâm lắm, cứ coi như nghe chuyện kể.
Quả thật, Thuần An cư sĩ là một “kỳ nhân”.
Nửa đầu cuộc đời bà mịt mờ như sương khói, đến tuổi tri thiên mệnh mới bất ngờ vang danh, dốc lòng soạn ra loạt tập thơ, làm rạng danh biết bao nữ văn nhân vô danh, để lại dấu ấn đậm nét trong văn học sử.
Ta rất ngưỡng mộ.
Thư Linh coi chồng bản thảo của ta như bảo vật, cắn ngón tay nghĩ tên cho tập thơ.
Ta hỏi:“Chỉ là mấy bản thảo sơ sài, ngươi cất công như vậy làm gì?”
Thư Linh giơ tờ giấy Tuyên, khẽ phất:“Tiểu thư viết rất hay.”
【Tiểu thư à, giờ người vươn tầm rồi, còn để mình nô tỳ lầm lũi trong xóm vắng vẽ bùa à? Mấy thứ nàng tiện tay viết đã là tuyệt tác, ta còn muốn bí mật mang ra bán lấy tiền, nói chi không hay ư?】
Nghĩ tới chữ viết gà bới của Thư Linh, ta bèn thở dài:“Ta bắt ngươi tập không ít, cũng mắng ngươi rồi, cớ sao chữ vẫn chẳng tiến bộ?!”
Thư Linh lầu bầu:“Mấy kiểu chữ này phiền phức quá.”
Bất kể học gì nàng cũng rất nhanh, chỉ có thư pháp là không khá nổi, vừa xiêu vẹo vừa thiếu nét.
Có năm đông tuyết lớn, ta dẫn nàng lẻn ra ngoài ngắm mai. Vẽ một bức “Tuyết Cảnh Thưởng Mai Đồ” xong chỉ trong một nét bút.
Ta mời nàng chấm thêm một cành hồng mai, lưu lại đôi dòng đề từ, nàng khước từ mãi không được, đành hạ bút.
Về nhà, ca ca tưởng ta vì lạnh đến run tay nên vẽ bừa đôi nét, cười nhạo ta suốt nửa năm. Ta trông cũng muốn cười, nhưng thương nàng nên nhịn, không nỡ nói ra.
Nhớ chuyện ấy, ta bật cười:“Lần này tuyệt đối không để ca ca bắt gặp nữa.”
Thư Linh mặt ửng hồng, vừa xấu hổ vừa hờn, toan nhảy tới đánh ta. Ta cười, vén váy chạy ra ngoài, lao vào vùng tuyết trắng mênh mang.
“Tuyết lại rơi rồi. Đi, chúng ta lên núi Mai lần nữa!”
Ai ngờ lần này vừa đến, lại bất chợt chạm mặt Khang vương đang vi hành.
Ta đề một bài thơ, Khang vương vỗ tay khen:“Phụ hoàng bảo hôm nay tuyết lớn, muốn bổn vương ra ngoài xem, quả nhiên gặp chuyện kỳ duyên. Tài hoa của Tạ cô nương quả danh bất hư truyền, chữ cũng có khí khái của đại nhân họ Tạ. Bổn vương cũng làm được một bài, chỉ sợ còn thiếu chút gì. Bài này đem dâng phụ hoàng, ắt hẳn Người cũng sẽ ngợi khen.”
Ta liếc ngang bài thơ của hắn, rồi dời mắt ngay.
Khang vương chờ đợi ta khen, nhưng ta thật không tìm ra điểm hay để tán thưởng.
Trong lòng Thư Linh cười “gà gà gà”:
【Ga ga ga, hai ba cành mai, bốn năm cành mai… Học theo tiểu thư bao năm, hôm nay ta rốt cuộc tự tin nói rằng “Ta cũng viết được như thế!”】
Ta yên lặng nhìn mực trên giấy đã khô, cuộn bản thảo lại trao cho Thư Linh cất giữ.
“Điện hạ quá khen, tài mọn của thần nữ chỉ là trò hạ bút linh tinh, chẳng đáng đưa vào đại nhã, e khó lọt mắt Thánh thượng.”
Khang vương mời ta vào ngồi trong đình lưng chừng núi, nói vương phi của hắn đang nghỉ ngơi, muốn ta đến chào một tiếng.
Ta mỉm cười:“Vương phi mệt nhọc, hôm nay thần nữ không dám quấy rầy.”
Trên đường về phủ, Thư Linh hỏi:“Tiểu thư nghĩ kỹ rồi, sẽ không gả cho Khang vương?”
Đúng vậy, ta đã quyết.
Hoàng đế lệnh Khang vương, kẻ đang cho xây phủ mới cho ngoại thích, ra ngắm tuyết. Là muốn hắn xe ngựa vàng son dạo cảnh mai, hay đi xem cảnh tuyết đổ sập nhà tranh ở ngoại ô?
Hắn không có tư chất minh quân, Hoàng đế vẫn còn tráng niên, sáng suốt nhìn người, Tạ gia chẳng thể dấn thân mạo hiểm.
Hắn ngưỡng mộ danh tiếng của ta, nhưng chẳng quan tâm đến tài hoa thật sự của ta. Ta không muốn nằm chung giường mà mỗi kẻ một giấc mơ.
Có lẽ ngay khoảnh khắc đó, mọi băn khoăn nhiều ngày của ta tan biến, ta chợt sáng tỏ:
Ta không phải “sợ ế”, mà là “sầu gả”.
Không phải ta lo lắng xem rốt cuộc mình sẽ lấy người thế nào, mà ta bối rối không biết sẽ sống cuộc đời ra sao.
Và ta quyết định trở về Giang Nam.
11.
Ta báo tin cho mẫu thân, khi người đang ngồi trong rừng trúc “kim khảm ngọc” mà phụ thân đã cất công trồng cho người.
Năm nay tuyết lớn hoành hành, phụ thân mấy ngày qua bận việc cứu tế chưa về nhà, chỗ ngồi bên cạnh mẫu thân đành để trống.
Mẫu thân khép sách, bảo:“Để ta nhắn tin cho mấy vị ca ca của con đến đón.”
Ngoại tổ ta là một vọng tộc ở Giang Nam, ông ngoại danh vọng sâu dày.
Mẫu thân là con út, từ nhỏ được cưng chiều trên tay, năm xưa cũng từng được trăm nhà cầu hôn.
Ta nói:“Có lẽ con sẽ ở đó mấy năm mới hồi kinh.”
Mẫu thân nói:“Nhà ngoại tổ của con, ở bao lâu mà chẳng được. Năm xưa ta theo chồng đi xa, rất ít dịp về, ông bà ngoại nhớ ta vô cùng. Giờ có con ở đó, cũng coi như ta đền bù thêm cho họ.
“Chuyện hôn sự không vội. Ta và phụ thân đều ích kỷ, muốn giữ con lại thêm ít năm. Khang vương cũng chẳng phải mối duyên lành, con đi xa để hắn sớm dứt tâm tưởng cũng tốt.”
Ta tựa vào gối mẫu thân, khẽ hỏi:“Nếu con không lấy chồng thì sao?”
Mẫu thân thoáng kinh ngạc, rồi bật cười:“Ấy cũng hợp ý ông ngoại con, e rằng phụ thân con sẽ quý con hơn cả quý ta. Lúc ấy ta mới phải lo, bởi cha con có khi chẳng muốn để con rời Giang Nam nữa!”
Mẫu thân xuất giá sớm, lại gả đi xa, đó luôn là điều khiến ngoại tổ cảm thấy nuối tiếc.
Nói rồi, người đưa tay chỉnh lại mái tóc cho ta. Đôi bàn tay vừa đi phát cháo cứu tế ngoài ngoại ô, vì lạnh mà ửng đỏ, vẫn vương thoang thoảng mùi mặn nồng của cháo.
Ta chợt thấy lòng yên ổn, mỉm cười:“Ông bà ngoại thương con, vốn dĩ vì thương mẫu thân. Sao có thể phân chia ai nhiều ai ít?”
Ngày ta khởi hành, cả nhà ra tiễn đến bến vận hà.
Đình Liên đã khóc hai lần, mắt đỏ hoe.
Ta nhét vào tay muội một mảnh giấy — trên đó ghi danh sách các công tử thế gia mà ta và Thư Linh từng để ý, xét thấy “tạm dùng được”.
Lúc này, gã thư đồng nọ mang đến một phong thư, chỉ tay về chiếc xe ngựa của phủ Đoan vương đậu xa xa:“Đây là quà chia tay chủ nhân chuẩn bị, nói rằng Tạ cô nương đến Giang Nam có lẽ sẽ dùng tới.”
Ta nhìn theo, thấy Lâm Gia thò đầu ra cười với ta, rồi bức rèm nhanh chóng khép lại, không thấy bóng dáng hắn nữa.
Nguyên quán của Lâm Gia ở vùng Giang Nam, đương nhiên có vài mối quen biết.
Ta nhận lấy món quà, cùng Thư Linh theo cậu bước lên thuyền.
Đường thủy chòng chành, ta không say sóng nhưng Thư Linh thì nôn đến trời đất tối tăm, chỉ nằm đơ trên giường, mắt trợn ngược.
Ta nhìn mà xót, bưng thuốc đỡ nàng uống.
【Tiểu thư đối với ta thật tốt, hu hu... Mà cớ sao cái kẻ “điên vương” kia cũng có người thương, còn tiểu thư đến nay vẫn chưa gặp lang quân như ý…】
Đủ rồi!
Không nghe nữa cũng chẳng mất lịch sự.
Ta cương quyết rót thuốc vào miệng Thư Linh, để nàng khỏi tơ tưởng linh tinh.