1.
Ta tên là Tống Lưu Tiên, là con gái út trong nhà, thân sinh bởi một vị tiểu quan cấp bậc thất phẩm.
Tuy rằng chức vị của phụ thân chẳng mấy cao sang, cũng chẳng nổi bật về tài năng, nhưng nhà ta lại có đến tám anh chị em, đông vui náo nhiệt, gia đình lúc nào cũng đầy ắp tiếng cười.
Mẫu thân ta nổi tiếng là “toàn phúc chi nhân” trong vùng—có đủ cha mẹ, huynh đệ tỷ muội, có phu quân yêu thương, có cả trai gái đề huề, phúc trạch viên mãn.
Hễ trong tộc hay trong làng có ai cưới hỏi, người ta đều mời mẫu thân ta đến dọn giường tân hôn, mong cầu vận tốt như bà.
Nhờ vậy mà đại tỷ và nhị tỷ ta đều được gả vào những gia đình danh giá.
Đại tỷ lấy trưởng tử của một vị võ quan ngũ phẩm, còn nhị tỷ thì thành thân với út tử của Hồng Lô Tự khanh thuộc hàng tứ phẩm.
Sau khi thành thân, cả hai đều sống yên ấm thuận hòa, con cái đầy đủ, gia đình hưng vượng.
Đến khi ta vừa qua tuổi cài trâm, mẫu thân bắt đầu tính toán, cho rằng dù có may mắn thế nào đi nữa thì cùng lắm ta cũng chỉ gả được vào nhà quan tam phẩm là cùng.
Ai ngờ, người đến cầu hôn lại là… phủ Tể tướng!
2.
Sau khi nhận được bái thiếp từ Hứa công tử, sắc mặt mẫu thân ta suốt ngày ủ rũ, thở dài không ngớt.
“Nghe đâu Thất lang của phủ Hứa chẳng thiết chuyện thành thân, chỉ mải mê đuổi theo đạo pháp. Bao nhiêu tiểu thư danh giá đều lắc đầu từ chối, nay Hứa phu nhân lại muốn cưới con về làm chính thất, chắc cũng vì nghĩ con số mệnh tốt, dễ sinh nở, mới mong con sinh cho bà ấy một đứa cháu để nối dõi.”
Vừa nói dứt lời, bà đã đập tay lên đùi, tức giận thốt lên:
“Vậy chẳng khác nào đem con đi gả làm quả phụ sớm!”
Phụ thân ta là quan nhỏ, mẫu thân nào dám trái ý Hứa phu nhân.
Đại tỷ và nhị tỷ đều đã gả vào gia đình quan lại, nếu chuyện này truyền ra, há chẳng liên lụy đến họ?
Nhị ca và tam ca cũng đang bước vào tuổi bàn chuyện hôn sự, chỉ cần một chút tiếng xấu, e là đường hôn nhân cũng bị ảnh hưởng không ít...
Thế nhưng nếu đồng ý, bà lại lo ta vào cửa rồi sẽ chịu thiệt thòi.
Còn ta thì chỉ thấy tò mò, nghiêng đầu hỏi:
“Hứa Thất lang? Đã là Thất lang thì chẳng phải đã có bảy huynh đệ rồi sao, còn lo chi chuyện con nối dòng?”
Một nhà quyền quý như thế, đáng ra phải con cháu đầy đàn mới phải.
Mẫu thân ta lắc đầu, thở dài một tiếng:
“‘Thất lang’ là thứ tự trong cả họ, chứ chẳng phải con thứ bảy trong nhà. Hứa phu nhân chỉ có đúng một đứa con này thôi! Nghe nói khi xưa cầu tự còn phải lên tận chùa Quan Âm trên núi Diệu Phong, quỳ gối mấy trăm cái mới xin được đó!”
À, hóa ra là vậy.
Ta nhẹ nhàng bước lại gần, khẽ xoa lưng cho mẫu thân, giọng nhỏ nhẹ:
“Mẫu thân đừng phiền lòng nữa, xét kỹ ra, hôn sự này đâu phải là chuyện xấu.”
“Nếu con có thể sinh cho Hứa Thất lang một trai một gái, nhà họ Hứa chắc chắn sẽ coi trọng con. Được ở trong nhà cao cửa rộng, cơm ngon áo đẹp, đâu thể coi là chịu khổ?”
Ta chậm rãi nói tiếp:
“Hơn nữa, nếu Thất lang thật sự lên đường tìm đạo thành tiên, nhà họ Hứa tất nhiên sẽ mang lòng áy náy. Khi ấy chẳng những không bạc đãi con, mà còn có thể đối đãi hậu hĩnh, thậm chí giúp nhà ta thêm phần vinh hiển.”
Phụ thân, các huynh trưởng, cả các tỷ phu nữa, đều có thể được thơm lây. Sao lại không đáng?
Huống hồ, mẫu thân ta đã mang danh dễ sinh nở, thì con gái mẫu thân sinh ra chắc cũng chẳng kém gì.
Mẫu thân ta mắt hoe đỏ, ôm lấy ta mà nghẹn ngào:
“Lưu Tiên à, con đúng là đứa con biết nghĩ…”
3.
Cứ như vậy, hai bên gia đình chính thức trao đổi bát tự, cử hành lễ nạp thái theo đúng lễ nghi.
Hứa phu nhân hành xử rộng rãi, không hề vì xuất thân thấp hèn của nhà ta mà tỏ vẻ khinh thường. Lễ vật đưa sang đều thuộc hàng thượng phẩm, đến cả con nhạn lớn cũng là nhạn sống, cánh đập loạn xạ, trông đầy sinh lực.
Đến ngày đại hôn, phủ Hứa treo đèn kết hoa, đỏ rực cả phủ đệ, khách đến dự lễ đông như trẩy hội, nghi trượng rộn ràng, hôn lễ long trọng khó ai bì kịp.
Cũng phải thôi—độc đinh trong phủ cưới vợ, sao có thể qua loa được?
Tới giờ lành động phòng, Hứa công tử lại bị người ta trói chặt, đẩy thẳng vào phòng cưới.
“Thả ta ra! Một lũ nô tài không biết sống chết! Mau cởi trói cho ta!”
“Ta nói rồi, ta không muốn cưới vợ! Không muốn thành thân! Đứa nào dám đẩy ta—cẩn thận bản công tử xử lý các ngươi!”
Đám gia nhân chỉ cúi đầu im lặng, ai nấy làm ngơ như thể chẳng hề nghe thấy những lời giận dữ kia.
Ngay cả hỉ nương cũng vô cùng hiểu ý, đỡ tay ta cởi bỏ khăn voan, sau đó nâng chén rượu giao bôi, ép Hứa công tử uống cho bằng được.
“Ưm... Ta không uống! Thả ra! Khụ... khụ...”
Nhưng chén rượu kia, rốt cuộc vẫn bị ép nuốt xuống bụng.
Thấy đôi tân lang tân nương đã hợp cẩn, hỉ nương hành lễ xong thì khẽ cười rút lui, trước khi đi còn lén nháy mắt với ta một cái tinh nghịch.
Ta nghe lờ mờ... hình như trong chén rượu đó có pha dược.
Là loại thuốc khiến nam nhân... khơi dậy dục niệm.
Aizz, xem ra đêm nay e rằng Hứa Thất lang sẽ phải chịu khổ rồi.
Trong phòng chỉ còn lại hai người chúng ta, ta và phu quân—trừng mắt nhìn nhau, ai cũng không nói lời nào.
Mãi đến lúc này, ta mới thực sự nhìn rõ gương mặt người vừa thành thân với mình.
Hứa Thất lang tầm hơn hai mươi tuổi, vóc dáng cao ráo, gương mặt anh tuấn, đuôi mắt khẽ xếch, đôi mắt phượng sáng rực, khí chất vừa cao nhã lại mang chút xa cách.
Có lẽ do bị ép uống chén rượu ban nãy, ánh mắt chàng phảng phất vẻ mơ hồ, hai gò má ửng hồng lên.
Dĩ nhiên... cũng có thể đó chỉ là do tức giận mà thôi.
4.
Hai chúng ta cứ thế mắt to trừng mắt nhỏ, không ai chịu lên tiếng trước.
Hứa Thất lang lặng lẽ quan sát ta một lúc, rồi bất chợt quay mặt đi, ánh mắt tránh né.
Ta chớp mắt một cái—ý tứ là sao đây?
Ta có điểm nào không vừa mắt chàng chứ?
Mẫu thân từng bảo ta tuy chẳng đến mức tuyệt sắc giai nhân khuynh quốc khuynh thành, nhưng cũng là một cô nương phúc hậu đầy đặn, mày ngài mắt phượng, khí sắc hồng nhuận, trông vào đã thấy dễ sinh con. Cũng nhờ vậy mà Hứa phu nhân mới chọn ta đưa vào cửa.
Một hồi sau, Hứa Thất lang mới khẽ khàng mở miệng, giọng lí nhí tựa tiếng muỗi vo ve:
“Ta… ta sẽ không cùng nàng sống đời vợ chồng đâu. Sáng mai, nàng cứ quay về nhà đi. Coi như lễ vật là khoản bồi thường. Nếu nàng cảm thấy chưa đủ, ta có thể đưa thêm ít bạc hay lụa là.”
Ta thầm thở dài—đến nước này rồi mà chàng vẫn còn giãy giụa?