2.
Ta thuê một cỗ xe ngựa, đưa Dung Kỳ An rời khỏi thành.
Căn nhà này, là ta mua vào năm thứ tư sau khi vào phủ.
Dung phủ xưa nay đối đãi tử tế với hạ nhân, ngoài tiền công hàng tháng rất hậu hĩnh, mỗi dịp lễ tết lại còn ban thưởng bạc trắng thật thà.
Thêm vào đó, mấy năm ấy ta có học được vài nghề thêu vá từ các phụ nhân lớn tuổi trong phủ, sau đem đi bán, thu được không ít ngân lượng. Nhờ vậy mà chỉ sau bốn năm, ta đã mua được căn tiểu viện này.
Ba năm sau đó, ta vẫn thường xuyên sắm thêm đồ đạc, tuy không thể gọi là đủ đầy, nhưng để ở thì cũng chẳng thành vấn đề. Chỉ là... ta vẫn luôn cảm thấy, để Dung Kỳ An sống ở nơi này, thật có phần bạc đãi chàng.
“Đại nhân, nơi này hơi nhỏ, mong người đừng chê. Sân vườn không thể so với hậu hoa viên năm xưa, trong nhà chỉ có một gian phòng lớn. Đại nhân ở buồng chính, đệm chăn gối nệm đều mới tinh, thông gió tốt, còn có ánh nắng rọi vào. Thiếp sẽ ở phòng ngoài, đại nhân cần gì cứ gọi một tiếng là được.”
Ta dìu chàng đi chầm chậm quanh nhà, để chàng quen dần với không gian trong tiểu viện chật hẹp này.
“Đào Vân.”
Chàng chợt mở lời, giọng mang theo ý cười nhàn nhạt, pha lẫn vài phần bất đắc dĩ.
“Ta nay đã bị bãi miễn chức quan, nàng không cần phải gọi ‘đại nhân’ nữa.”
Lúc ấy ta mới giật mình nhận ra. Chỉ là… sau bao năm, tiếng “đại nhân” đã quen thuộc đến nỗi khó mà đổi ngay được.
Ta lúng túng chưa biết nên gọi thế nào thì chàng dịu dàng nói:
“Nếu nàng không chê, cứ gọi ta là Kỳ An.”
Mặt ta bỗng đỏ bừng như lửa bén giấy.
Bất giác thấy may mắn – may mà giờ đây Dung Kỳ An không còn nhìn thấy, nếu không hẳn sẽ phát hiện bộ dạng ngượng ngùng lúng túng đến đáng xấu hổ của ta.
Kỳ An.
Mười bốn tuổi, lần đầu tiên ta gọi thầm cái tên ấy trong mộng.
Trong giấc mộng năm ấy, ta và chàng cùng nằm trên giường, trút sạch xiêm y. Sau khi làm xong chuyện không tiện nói ra, cả hai người đều mồ hôi ướt đẫm.
Chàng ôm lấy ta, còn ta vùi trong ngực chàng, lắng nghe từng nhịp phập phồng nơi lồng ngực…
Ta khẽ gọi tên chàng, vừa gọi vừa nghe hơi thở nặng nề hơn thường ngày của chàng vang lên bên tai.
Kỳ An.
Cũng chính từ sau giấc mộng ấy, ta mới chợt nhận ra tình cảm mình dành cho Dung Kỳ An, chẳng còn đơn thuần là lòng biết ơn cứu mạng.
Trong đó còn có thứ cảm xúc sâu nặng hơn, rối ren hơn – là tình nam nữ, là khát khao, là si mê không thể nói thành lời.
Kích động, vui mừng, tuyệt vọng, hổ thẹn, tự ti…
Biết bao cảm xúc lũ lượt trào dâng, như sóng lớn vỗ bờ, suýt nữa đã nhấn chìm ta.
Giống như chính ta lúc này đây.
Tên chàng, Kỳ An, cứ xoay quanh đầu lưỡi ta mãi không rời, nhưng cuối cùng vẫn chỉ có thể nghẹn lại trong bụng, chẳng dám thốt thành lời.
“Cái… cái đó… sao có thể được.” Ta run giọng, nói chẳng nên câu.
Dìu Dung Kỳ An ngồi vững vào ghế, ta vội vàng để lại một câu nói lấy cớ đi tìm đại phu, rồi như trốn chạy khỏi sự thất thố của chính mình, vội vã rời đi.
3.
Đại phu đang ra ngoài thăm bệnh, ta liền để lại địa chỉ và ứng trước ít bạc, hẹn sáng mai sẽ tới tận nhà xem mắt cho Dung Kỳ An.
Trên đường về, ngang qua chợ, đúng lúc đang vào mùa đào.
Đào được bày khắp các sạp, quả nào quả nấy đều căng mọng, mềm mại, tựa như chỉ cần khẽ cắn một miếng là nước ngọt sẽ trào ra, thơm lừng đầu lưỡi.
Nghĩ tới việc chữa mắt không biết còn tốn bao nhiêu ngân lượng, ta do dự một hồi, cuối cùng chỉ mua duy nhất một quả mang về.
Vừa đẩy cổng bước vào sân, ta đã thấy Dung Kỳ An đang đứng đó.
Thân hình chàng cao gầy, xưa nay vốn đã thanh mảnh, nay sau bao khổ hình trong lao ngục lại càng trở nên gầy guộc yếu ớt – như thể chỉ cần một trận gió lớn thổi qua cũng đủ cuốn ngã.
Dưới chân chàng là những mảnh chén vỡ, đầu ngón tay đang nhỏ xuống từng giọt máu tươi.
Máu hoà cùng nước trà, loang dần trên nền đất thành một mảng u ám mơ hồ.
“Đại nhân!”
Ta quên khuấy mất việc đã hứa sẽ gọi chàng là công tử, vội vã chạy lại, đỡ chàng ngồi xuống ghế, rồi nâng tay chàng lên xem. Hóa ra là do mảnh sành cắt trúng, vết thương không sâu, máu cũng đã bắt đầu đông lại – lúc ấy ta mới thở phào nhẹ nhõm.
“Thật xin lỗi.” Có lẽ nghe thấy tiếng thở dài của ta, giọng nói của Dung Kỳ An liền cất lên, mang theo vài phần dè dặt. “Ta chỉ là… có hơi khát nước.”
Ta lúc ấy mới sực nhớ ra – từ lúc đón chàng ra khỏi ngục đến giờ, quả thật chưa hề để chàng uống lấy một giọt.
“Là thiếp suy nghĩ không chu toàn. Đại… công tử cứ nghỉ tạm ở đây một lát, trong bếp chắc còn nước đun để nguội, thiếp đi lấy bát lớn mang ra.”
Vừa quay người đi được vài bước, ta lại thấy lo lắng, liền quay đầu dặn thêm:
“Trên nền nhà còn nhiều mảnh vụn, công tử tạm thời đừng cử động, thiếp quay lại ngay.”
Ta mang bát nước tới, kèm theo ít giấy mềm ướt và thuốc mỡ.
Quả nhiên chàng vẫn ngồi yên một chỗ, như lời dặn, không hề nhúc nhích. Hàng mi khẽ rủ xuống, thần sắc yên tĩnh như một pho tượng Quan Âm trong điện thờ – không rõ đang suy tư điều gì.
Ta đưa bát nước cho chàng. Chàng khẽ cảm ơn, rồi uống một hơi cạn sạch.