Sáng hôm sau, toàn bộ phủ Quốc công đều biết – Thế tử gia và Thế tử phi đã viên phòng.
Lũ hạ nhân nghĩ đến việc Thế tử gia vốn lạnh nhạt băng sương, nay lại đối với Thế tử phi đâu đâu cũng ân cần, chỗ nào cũng chiều chuộng, ai nấy đều âm thầm thấy sợ.Từ đó về sau, không một ai dám tỏ chút vô lễ với Thế tử phi.
Còn ta – những ngày trong phủ từ đây trở đi, quả thật an nhàn sung túc đến mức khiến người ta phải hâm mộ.
…
Ngày mười tháng chín, là thọ nhật của ngoại tổ mẫu.
Ta chuẩn bị tỉ mỉ lễ vật chúc thọ, Thẩm Yến Chi đích thân tháp tùng, hai người lên đường đến Ký Châu trước hai ngày.
Trước khi đi, ta mang theo chiếc vòng ngọc – quà tặng năm xưa của biểu ca Cố Hoài Lăng.Trong lòng ta thầm nghĩ: đã gả làm Thế tử phi rồi, vật này vẫn nên trả về cho chủ cũ.Nếu một ngày nào đó bị Thẩm Yến Chi nhìn thấy, ta chẳng dám chắc chàng sẽ rộng lượng đến mức không hề suy nghĩ lung tung.
Đêm ấy, thọ yến của tổ mẫu kết thúc đã quá nửa đêm.
Trong yến tiệc, ta nghe người trong tộc nói – biểu ca mai sẽ rời nhà đi nhậm chức nơi xa.
Ta liền nói với Thẩm Yến Chi rằng muốn đến hầu chuyện riêng cùng tổ mẫu, nhưng thật ra lại âm thầm đi tìm biểu ca.
“Biểu ca.”
Dưới ánh trăng dịu dàng, Cố Hoài Lăng nhìn thiếu nữ trước mặt, trong lòng chan chứa đắng cay, nhưng trên môi vẫn gắng gượng nặn ra một nụ cười:
“Trúc nhi…”
“Biểu ca, cái này trả lại cho huynh.”
Ta nhẹ nhàng đặt chiếc vòng ngọc vào tay Cố Hoài Lăng.
Nụ cười trên gương mặt huynh thoáng khựng lại, ánh mắt cụp xuống, rất lâu sau mới đưa tay nhận lấy, giọng nghèn nghẹn, lẫn trong đêm nghe chẳng rõ vui hay buồn:
“Trúc nhi, muội… sống tốt chứ?”
Ta khẽ đáp:
“Biểu ca, tuy rằng duyên phận của chúng ta đã hết, nhưng muội vẫn luôn coi huynh là người thân cận nhất. Ta đã tìm được bến đỗ tốt, cũng mong huynh từ đây bình an thuận lợi. Lần này núi cao sông xa, chẳng biết khi nào mới có thể gặp lại, huynh… phải bảo trọng.”
Cố Hoài Lăng như thưở thiếu niên, xoa nhẹ đỉnh đầu ta, cười hiền:
“Yên tâm, muội cũng phải giữ gìn.”
Rời khỏi biểu ca, ta quay gót trở về, đi ngang qua hoa viên thì bất ngờ bị Thẩm Yến Chi chắn trước mặt.
“Nàng đã đi đâu?” – giọng chàng vang lên, lạnh nhạt mà khó dò.
Ta hơi chột dạ, đáp vội:
“Thiếp… vừa từ chỗ ngoại tổ mẫu về.”
Đôi mắt Thẩm Yến Chi khẽ nheo, sâu thẳm khó lường:
“Thì ra tiểu danh của nàng là ‘Trúc nhi’, nghe thật hay. Sao nàng chưa từng nói với ta?”
Tim ta chợt nhói. Ta không biết rốt cuộc chàng đã nhìn thấy hay nghe được bao nhiêu.
Ta hé môi định giải thích, nhưng đã bị chàng cắt ngang:
“Thôi… là ta đã cưỡng cầu nàng. Ta vốn tưởng cưới nàng là cứu nàng, nào ngờ… lại thành người phá vỡ mối nhân duyên tốt đẹp của nàng.”
Ba chữ “nhân duyên tốt đẹp” cuối cùng, chàng cắn răng mà thốt ra.
Ta nhìn xuống, thấy ngón tay chàng siết chặt đến trắng bệch, trong lòng càng thêm hoảng loạn.
Ta vội vươn tay nắm lấy ống tay áo chàng, khẩn thiết:
“Không phải như thế… thật sự không phải như thế…”
Nhưng bàn tay nhỏ bé của ta bị Thẩm Yến Chi gạt ra.
Chàng đưa tay day mi tâm, trầm ngâm giây lát, chỉ chốc lát sau ánh mắt đã lấy lại sự bình tĩnh thường ngày.
“Trong quân doanh còn việc, ta phải lập tức trở về. Nàng muốn ở lại thêm vài hôm cũng được, đến lúc về sẽ có thị vệ hộ tống.”
Nói xong, Thẩm Yến Chi quay người, không ngoảnh lại.
Chỉ còn lại ta trong ánh trăng lành lạnh, chẳng kìm được mà nước mắt tuôn rơi.
Ta chưa từng thấy Thẩm Yến Chi với vẻ mặt ấy – như một người đã buồn đau đến tận cùng, thất vọng đến tận cùng.
Ta còn tâm tình nào mà ở lại phủ ngoại tổ mẫu? Đêm đó liền thu dọn hành lý, sáng sớm hôm sau lên xe hồi phủ.
Nhưng ta đâu ngờ, Thẩm Yến Chi đã cả đêm thúc ngựa, thẳng tiến về biên giới Tây Nam.
Nơi ấy là thảo nguyên, bầy mục dân xưa nay dựa vào chăn nuôi mà sống.
Năm nay ôn dịch bùng phát, gia súc chết hàng loạt, mục dân tổn thất nặng nề. Quan phủ lại liên tiếp thu thuế, ép đến đường cùng, mục dân chẳng còn lối thoát, đành nổi dậy chống đối.
Chỉ trong nửa tháng, họ đã công phá hai tòa thành, giết chết cả Thái thú, thủ lĩnh tự xưng Vương.
Triều đình lúc ấy mới coi trọng, hạ chỉ cho Thẩm Yến Chi đi dẹp loạn, bình định.
Cuộc chia ly này, kéo dài suốt ba tháng.