1.
Lời vừa thốt ra, bầu không khí trong phòng lập tức căng cứng.
Chị dâu không đáp, chỉ quét mắt nhìn tôi đầy khinh khỉnh.
Anh trai thì bật dậy, gương mặt khó chịu:
“Giang Dao, em ăn nói với chị dâu kiểu gì thế hả?”
“Tôi nói sai chỗ nào? Không phải chính mọi người cho rằng tôi tham lam muốn chiếm lợi sao? Tôi trả lại rồi, như vậy vẫn không vừa lòng? Hay là thật ra mọi người chỉ muốn có một bảo mẫu miễn phí?”
Bao nhiêu năm nay, đây là lần đầu tiên tôi dám phản bác thẳng thừng như vậy.
Mỗi lời tôi thốt ra, cánh tay ôm chặt chiếc máy tính lại run lên theo.
“Con nhóc chết tiệt! Miễn phí cái gì? Ăn ở trong nhà này, chẳng lẽ không nên làm việc? Mày tưởng mình là tiểu thư cao quý, mười ngón tay chẳng chạm nước xuân sao?”
Ăn bám ư?
Từ lúc nghỉ hè bắt đầu, tôi chưa từng có một ngày được thảnh thơi. Thậm chí còn mệt hơn đi học.
Đứa trẻ mới bốn tuổi, ồn ào quấn người, gần như hai mươi bốn tiếng đều phải có tôi kè kè bên cạnh.
Khó khăn lắm chờ anh chị đi làm về, mẹ lại gọi tôi ra quán nướng của gia đình phụ giúp.
Quán bắt đầu đông khách từ sáu giờ tối, một ngày nối liền một ngày, không ngừng nghỉ.
Đến tận nửa đêm mới được về, rồi lại tiếp tục trông cháu ngủ.
Nhà chỉ có ba phòng: bố mẹ một phòng, anh chị một phòng, còn lại là phòng trẻ con. Mỗi kỳ nghỉ đông hè, tôi đều phải ngủ cùng đứa nhỏ.
Nhưng nó ngủ chẳng yên, lăn lộn cả đêm. Tôi chỉ muốn nhắm mắt nghỉ sớm cũng không được, đành trải tạm chiếc nệm trên bệ cửa sổ mà chợp mắt.
Đứa trẻ này lại là “bảo bối” mà bố mẹ mong ngóng nhiều năm, cả nhà ai cũng chiều chuộng.
Hôm trước, nó còn ngang ngược nói thẳng với tôi:
“Con không cho cô ở trong phòng con nữa. Đây là nhà của con, cô cút đi! Đây là nhà bố mẹ con!”
Chỉ vì tôi bắt nó ngồi học chữ, nó bực liền buông lời như thế.
Câu nói đó, cả nhà đều nghe thấy.
Chị dâu chỉ giả vờ quở trách:
“Sau này cô út đi lấy chồng, đâu còn ở đây nữa, lúc đó muốn gặp cũng chẳng dễ.”
Bố mẹ thì chỉ thản nhiên: “Trẻ con nói bậy thôi, đừng chấp với nó.”
Nhưng tôi nào dám chấp?
Tôi vốn dĩ đã là người thừa trong căn nhà này, một “công dân hạng hai”.
Căn nhà này ngay từ đầu chưa bao giờ có chỗ cho tôi. Sau này, đứa trẻ lớn lên, chẳng lẽ tôi vẫn phải chen chúc với nó sao?
2.
Anh trai hơn tôi tám tuổi. Từ khi tôi còn nhỏ, bố mẹ đã thường nói: “Một trai một gái mới là trọn vẹn chữ ‘Hảo’, đời này chẳng còn gì viên mãn hơn.”
Họ hàng bạn bè cũng khen ngợi, bảo tôi có một người anh như thế thì sau này nhất định sẽ được thương yêu chiều chuộng.
Mẹ tôi cũng hay nhắc đi nhắc lại rằng anh rất quan tâm, rất yêu thương tôi.
Nhưng trong ký ức của tôi, từ bé anh đã luôn lạnh nhạt, nghiêm khắc.
Bố mẹ chỉ nhẹ nhàng giải thích: “Con trai vốn không khéo léo, con phải thông cảm cho anh.”
Khi tôi dần trưởng thành, anh cũng đã là thanh niên.
Anh thi trượt đại học, đi làm lang bạt mấy năm rồi quay về quê cưới vợ.
Để cưới được chị dâu, bố mẹ vét sạch tiền tiết kiệm, còn vay ngân hàng mua một căn hộ ở thành phố hạng hai – đặt cọc tám trăm nghìn, trả góp ba mươi năm.
Sau đó lại vay mượn thêm để lo sính lễ.
Món nợ ấy mãi đến năm ngoái mới trả xong.
Anh đã tiêu sạch toàn bộ tài sản trong nhà, khiến con đường học hành của tôi gian nan trăm bề.
Sau kỳ thi đại học, bầu không khí trong nhà luôn ngột ngạt.
Ngày nào tôi cũng thấp thỏm bất an, thường xuyên nghe thấy tiếng anh và chị dâu cãi vã.
Chị dâu thẳng thừng nói: “Sớm biết nhà còn phải nuôi thêm một đứa, tôi tuyệt đối đã không gả về đây!”
Âm thanh rõ mồn một, cả nhà đều nghe thấy, nhưng chẳng ai lên tiếng, ngầm mặc định rằng tôi chính là gánh nặng.
Thế nên tôi chỉ có thể rụt rè, làm nhiều nói ít, cố gắng biến mình thành “người vô hình”, sợ chọc giận bất cứ ai.
Năm đó, đúng kỳ nghỉ hè, chị dâu sinh con.
Bố mẹ bận ở quê nhận thầu trồng rau, anh phải đi làm, nên việc ở cữ gần như dồn hết lên tôi.
Mỗi ngày, chị dâu đều sai tôi chuẩn bị đồ ăn theo ý, liệt kê đủ thứ kiêng kỵ.
Tôi dậy từ sáu giờ sáng đi chợ, nấu cơm sáng. Khi chị thức dậy ăn thì tôi lại bận tay bế em bé.
Có lẽ vì tôi chăm sóc khá chu toàn, nên ngay trước ngày nhập học, trong bữa cơm, anh trai bỗng nói:
“Em gái thi đỗ đại học thật không dễ, tiền học phí để anh lo, còn chi phí sinh hoạt thì em phải tự làm thêm. Nhà mình không dư dả gì đâu.”
Lúc ấy tôi còn nhỏ, nhiều lời muốn nói mà nghẹn cứng trong cổ.
Nói sao được đây? Chẳng lẽ phải nói rằng: “Khoản tiền lẽ ra dành cho việc học của tôi, đã bị lấy hết để lo cho anh cưới vợ sinh con, khiến bố mẹ phải gánh thêm nợ nần.”
Tôi hiểu, chỉ cần tôi hé răng phản bác, lập tức sẽ bị cả nhà lao vào công kích:
“Mày muốn anh mày tan cửa nát nhà sao?”
Vậy nên tôi chỉ chọn im lặng.
Có lẽ chính vì sự im lặng ấy, vị trí của tôi trong nhà ngày càng thấp.
Từ ngày đó, bố mẹ liên tục nhắc đi nhắc lại:
“Giang Dao, cả đời này con phải nhớ công ơn anh trai. Hoàn cảnh khó khăn vậy mà nó còn gắng gượng lo cho con đi học, con tuyệt đối không được quên.”
Chị dâu ngồi cạnh nghe, mặt sầm xuống, hất đũa bỏ đi.
Anh trai vội vàng dỗ dành vợ, rồi nâng chén rư/ợu, nói giọng nửa cợt nhả nửa cảm thán:
“Anh em trong nhà, nói nhiều làm gì. Chỉ cần sau này Tiểu Dao đừng oán trách anh trai năng lực có hạn là được.”
Tôi ngồi bên bàn ăn, căng thẳng như ngồi trên kim châm.
Mọi ánh mắt đều dồn cả về phía tôi, như ép tôi phải lập tức tỏ thái độ, phải thề thốt, phải chân thành nói ra rằng anh trai đối với tôi chẳng khác nào cha mẹ tái sinh, rằng tôi nhất định sẽ “nhớ ơn báo nghĩa, một giọt nước cũng hoàn trả thành suối.”
3.
Lên đại học rồi, tôi gần như chẳng có lúc nào được nghỉ ngơi.
Trong nhà lúc nào cũng kêu khó khăn.
Ban đầu, anh trai còn gửi cho tôi tiền sinh hoạt, mỗi lần một nghìn, duy trì được chừng hơn một tháng.