1.
Ta bán bánh nhân thịt nơi biên quan.
Bánh vỏ mềm, nhân thịt thơm, lúm đồng tiền của Tam Nương ta chính là lưỡi dao giết người.
Tam Nương ta, tay cầm dao, tay chống hông, nhe răng hù dọa lũ heo dê. Thịt heo mới g i ế t làm bánh, mỗi chiếc mười văn, chưa đến trưa đã bán hết sạch. Còn bánh thịt hôm trước, mỗi chiếc ba văn, bày đến chiều tối cũng hết veo.
Lão hán ở quán bên cạnh phát hiện ra bí mật:“Ngươi ngày nào cũng giết heo, chẳng để lại chút nào. Cùng một loại bánh, ngươi bán cho người giàu mười văn, còn kẻ nghèo chỉ lấy ba văn.”
Ta cười đáp:“Buổi sáng cướp của người giàu, buổi chiều cứu giúp người nghèo. Tam Nương ta, vốn chẳng bao giờ lừa kẻ khốn khó.”
Các tướng sĩ nơi biên quan rất thích bánh thịt ta làm, rảnh rỗi thì ba năm tụ lại mua, bận rộn thì nhờ ta mang đến quân doanh.
Ngày hôm đó, con heo lại khó g i ế t hơn thường lệ.
G i ế t heo, róc thịt, nhào bột, băm nhân, mặt trời đã lên ba sào. Lúc này, lão Vương từ quân doanh mang lời nhắn đến:“Hôm nay quân doanh có tiệc lớn, tiếp đón tướng quân mới đến. Nương tử, trước giờ Ngọ phải làm đủ một trăm chiếc bánh thịt đưa đến.”
Một đơn hàng lớn như vậy nửa năm mới gặp.
Ta xắn tay áo, siết chặt thắt lưng, bột mì tung bay, xẻng chảo rộn ràng. Một trăm chiếc bánh thịt, đúng hẹn trước giờ Ngọ.
Đưa bánh xong, ta vừa mệt vừa đói, ngay cả Tam Nương thép cũng phải dựa tường mà lê bước.
Lúc ấy, tướng quân trong bộ giáp đỏ, tóc buộc cao, cưỡi ngựa ngang qua. Ánh mắt hắn thoáng nhìn ta, rồi lại quay đầu ngựa, trở lại.
Tướng quân mặt nghiêm nghị, khí thế uy nghi quát hỏi:“Ngươi làm nghề gì?”
Ta bóp eo mình, bụng đói đến run rẩy, hơi thở yếu ớt:“Bán… thịt…”
Chữ “bánh” còn chưa ra, mặt tướng quân đã đỏ bừng, quát lớn:“Hạ lưu!”
Ta, một kẻ bán bánh tận tâm, cần cù ở chợ, thế nào lại thành hạ lưu?
Đang định lên tiếng biện giải, đám lính sau lưng tướng quân nhanh tay lẹ chân, lục lấy túi tiền trên thắt lưng ta.“Hẳn là kiếm được không ít, bảo sao lưng còng thế kia.”
Xung quanh vang lên tiếng cười chế giễu.
Tướng quân quay mặt đi, như thể chỉ nhìn ta thôi cũng làm bẩn mắt hắn.“Trói lại, mang về quân doanh. Ta không tin không trị được cái lối phong tục bại hoại này.”
Hắn cưỡi ngựa, còn ta bị trói chặt, nằm úp trên mông ngựa. Vạt áo tướng quân bay trong gió, quét qua mặt ta.
Ta cắn chặt vạt áo hắn, che mùi hôi của phân ngựa, trong lòng nghiến răng nghiến lợi.
Rồi sẽ có ngày, ta cho hắn biết thế nào mới gọi là THẬT SỰ HẠ LƯU!
2.
Biên quan Yến địa là phong địa của Hoa Dương công chúa.
Nếu hỏi vì sao công chúa lại chọn vùng Tây Bắc khắc nghiệt, thì đáp án hẳn là vì nơi đây đầy những nam tử mày rậm mắt to – đúng gu của công chúa.
Chiến loạn liên miên, dân chúng cơm không đủ ăn, áo chẳng đủ mặc.
Những nam tử có chút nhan sắc lần lượt tự tiến cử làm bạn gối chăn cho công chúa.
Còn những nữ tử nhan sắc hơn người, quần áo chẳng lành lặn, dần chuyển sang quyến rũ các binh lính canh giữ.
Thời buổi loạn lạc, cầu sinh vô cửa, ai cũng mong dựa vào hoàng gia, tìm được bát cơm sắt, theo đó mà có chút cháo nóng húp cầm hơi.
Lâu ngày, nam tử ở Yến địa càng thêm mềm mại, yêu kiều; còn các binh sĩ thì kiệt quệ thân xác, không còn sức mà cầm binh.
Triều đình không thể làm ngơ, phái tướng quân Nguyên Hoài – người nổi danh cứng rắn, quyết đoán và không gần nữ sắc – đến chỉnh đốn.
Cú chém đầu tiên của tướng quân, hướng thẳng vào những nữ tử làm nghề "bán da bán thịt" ở biên quan.
Và ta, Tần Tam Nương, vốn chỉ cần cù bán bánh nhân thịt, lại vô tình bị đặt lên lưỡi dao này.
Những nữ tử bị bắt đến đủ phong cách, đủ dáng vẻ: phong tình của hoa khôi, yếu đuối như liễu rủ, đoan trang kiểu nữ nhi nhà lành, đanh đá kiểu đại tiểu thư, ngây thơ kiểu ngốc bạch ngọt…
Nhìn là biết nghề này giờ đã cạnh tranh đến mức nào.
Người đông, nghề lại dễ cuốn theo lối làm ăn. Khi thấy cách ăn mặc của ta, bọn họ ai nấy đều kinh ngạc:“Ngươi chọn đường này… đúng là sáng tạo thật đấy.”
Ta nghiêm túc giải thích:“Thật ra, ta không giống các người. Ta là bán bánh nhân thịt.”
Bọn họ ngẫm nghĩ một hồi, rồi gật gù:“Ồ, hiểu rồi. Khi ngươi bán thịt, còn bán cả bánh.”
“Kiêm thêm nghề phụ, quả nhiên kiếm được nhiều hơn.”
“Chậc, nghề này của chúng ta, đúng là ngày càng cạnh tranh khốc liệt mà!”
Sự im lặng của ta khiến không gian lặng ngắt tựa tờ, nhưng lại tựa tiếng trống vang dội lòng người.
Từ ngày đó, ta bắt đầu cùng những nữ tử xiêm y lộng lẫy này học tập mỗi ngày.
Nguyên tiểu tướng quân quyết tâm chỉnh đốn, thủ đoạn vừa cứng rắn vừa triệt để.
Buổi sáng học sách vở, buổi chiều rèn kỹ năng.Vừa tẩy não tinh thần, vừa đào tạo nghề nghiệp, nghe đâu ai biểu hiện xuất sắc còn có cơ hội ở lại quân doanh, từ đó cầm chắc bát cơm sắt trong tay.
Sư phụ hỏi ta muốn học gì, ta đáp thẳng:“Không cần học, ta đã có sẵn một kỹ năng, chính là làm bánh nhân thịt.”
Ta cầm dao chặt, rầm rầm rìu rìu băm đầy một chậu thịt, rồi đổ bột nhào bánh, nướng một chảo thơm lừng.
Bánh vỏ mềm, nhân thịt đậm đà, hương vị của Tam Nương, ai từng nếm qua đều khó lòng quên được.
Các nữ tử cắn thử chiếc bánh của ta, không ngừng tấm tắc khen ngợi:“Tam Nương có tay nghề này, sau này có thể gả cho một đồ tể làm thê tử. Không như chúng ta, chỉ biết gảy đàn thêu hoa, cuối cùng cũng chỉ làm thiếp cho những công tử tuấn tú.”
Ta khẽ lắc đầu, mỉm cười bảo:“Gả đồ tể gì chứ, Tam Nương ta trước đây cũng từng là thê tử của một công tử tuấn tú đấy. Ta giỏi múa, còn lang quân giỏi vẽ. Lang quân vẽ Tam Nương ta như tiên nữ giáng trần, ai nhìn cũng không tiếc lời khen là một đôi trai tài gái sắc.”
Những nữ tử nghe vậy cười nghiêng ngả, người trước ngả người sau.“Tam Nương thật biết kể chuyện hài!”“Thế chàng công tử tuấn tú của Tam Nương giờ ở đâu?”“Công tử vừa tuấn tú vừa biết vẽ ấy, chẳng phải đã bị công chúa bắt đi sưởi ấm giường rồi sao? Làm gì đến lượt Tam Nương giết heo?”