5.
Năm năm sau, ta lập được quân công, được triều đình triệu về kinh dâng sớ tấu trình.Phụ thân ta vẫn ở lại trấn thủ biên cương.
Vừa hay tin ta sắp rời đi, Tiểu Nghênh An đã khóc lóc om sòm, nhất quyết đòi theo cùng:
“Mẫu thân ơi, người nỡ lòng nào bỏ mặc Nghênh An một mình mà đi sao?”
Tiểu tử này, có lẽ là theo gen của cha ruột bí ẩn kia, làn da trắng nõn hơn cả ta.Lúc mới chào đời, trong quân doanh, ai nấy đều nhắm mắt vờ khen hắn giống ông ngoại (tức cha ta), dù lúc ấy ngay cả lông mày còn chưa mọc đầy đủ.
Khi đó còn nhỏ, chưa rõ giống ai, phụ thân ta liền nhận định thằng bé là cháu mình mà không nghi ngờ gì.
Nhưng càng lớn… nó lại càng chẳng giống chút nào!
Phụ thân ta tức đến nghiến răng, thường mắng mỏ không thôi, bảo cha của đứa nhỏ là tai họa đầu thai, hại cháu ông mang một gương mặt chẳng giống nổi một chút huyết thống nào.
“Rõ ràng là cháu ta, mà sao lại không giống ta chút nào vậy hả?!”
Rồi quay sang trách ta vô dụng:
“Đến đứa con mình sinh ra cũng chẳng giống mẹ, chẳng giống nhà họ Chu!”
Ấy thế mà ông lại chẳng nhìn lại chính mình — mặt mày dữ tợn, ngũ quan như hung thần, hệt như thần giữ cửa, ban đêm nhìn thôi cũng đủ dọa người.
Nếu Nghênh An mà thật sự giống ông… thì nhà này đúng là đủ cặp “hung thần sát khí”.
Từ khi đứa nhỏ ra đời, phụ thân ta giả vờ lạnh nhạt, làm như không quan tâm đến ta nữa, chỉ nói một câu:
“Thằng bé là người nối dõi của nhà họ Chu, nhất định phải nuôi thành người giỏi giang kế thừa y bát.”
Ông bắt nó học văn đọc sách, lại ép nó luyện võ phòng thân.
Nghênh An tuổi còn nhỏ, suốt ngày phải đối diện với nét mặt lạnh tanh nghiêm nghị của ông ngoại, đành cố gắng nén nước mắt.
Nhưng… dẫu sao cũng là cháu ruột trong lòng bàn tay, phụ thân ta sao có thể không thương?
Ban ngày thì la mắng nghiêm khắc, đêm đến, khi thằng bé đã ngủ, ông lén đến xem nó có vết thương nào không, tự tay thoa thuốc cẩn thận.
Haizz… thôi vậy cũng được rồi.
6.
Ngày giỗ của mẫu thân ta cũng sắp đến. Lần này đưa Nghênh An hồi kinh, cũng để nó cùng ta thắp nén hương cho mẹ.
Từ khi chào đời, Nghênh An chỉ sống nơi biên ải, quen thuộc cảnh binh đao tàn khốc, chưa từng nếm trải sự yên bình hoa lệ nơi kinh thành.
Trước khi rời đi, Nghênh An hiếm khi chủ động, vậy mà hôm nay lại bất ngờ trèo lên, đặt một cái hôn lên má ông ngoại. Sau đó từ trong tay áo lấy ra một chiếc bùa bình an, cung kính dâng lên.
“Ngoại công, đây là bùa bình an mà con nhờ thúc thúc Dương mua giúp. Thúc ấy bắt con làm bài tập ba ngày liền, con đều làm được hết. Ban đầu thúc định thưởng cho con một cây kẹo hồ lô, nhưng bác bán hàng nói bùa bình an có thể giúp người ta an toàn vô sự. Trong doanh trại lúc nào cũng có người bị thương, con không muốn ông ngoại bị đau, nên con xin thúc mua cái này. Con tặng ông, ông đeo vào rồi thì cả đời bình an khỏe mạnh.”
Phụ thân ta lặng lẽ nhận lấy, ôm chặt lấy Nghênh An, hôn rồi lại ôm như thể ôm một bảo vật trong tay, không nỡ buông ra.
Nghênh An vì có dung mạo trắng trẻo dễ thương, tính tình lại ngoan ngoãn hiểu chuyện, nên rất được lòng các tướng sĩ trong quân doanh.
Phó tướng Dương là người yêu thương nó nhất, cứ cách vài ngày lại đem đề bài đến thử thách. Nó được thưởng chẳng ham ăn bánh lạ, mà lại biết chọn bùa để tặng ông ngoại. Không hổ là con ta, hiếu thuận, giống mẹ!
Lúc xe ngựa đến cổng thành, Nghênh An ngẩng đầu, kinh ngạc phát hiện ông ngoại đang đứng trên lầu thành.
“Ngoại công ơi, Nghênh An sẽ nhớ người lắm. Người phải chờ con với mẹ về đó nha!”
Cái giọng lớn như hét ấy, quả thật là thừa hưởng từ ông nó.
Tựa hồ phụ thân ta nghe được, chỉ thấy ông giơ tay lên, mạnh mẽ lau lệ, rồi phất tay nói:
“Cát bụi bay vào mắt thôi. Ta đi về đây, hai mẹ con lên đường sớm đi, trời mà tối là khó đi đó.”
7.
Vừa vào kinh, Hoàng thượng liền hạ chỉ thiết yến, khoản đãi các võ tướng vừa hồi triều báo cáo công vụ.
Trên yến tiệc trong cung, vị thiên tử trẻ tuổi, dung mạo còn non nớt, ngồi ngay ngắn trên ngự tọa.Phía bên hữu, thấp hơn một bậc, có một bóng người cao lớn nhưng vóc dáng lại mảnh khảnh, tư thế ung dung tự tại, chẳng giống chút nào với đám đại thần đang ngồi nghiêm chỉnh phía dưới.
Người đó, hẳn chính là vị Nhiếp chính vương Cố Trì — kẻ dưới một người, trên vạn người.
Sau một hồi chào hỏi khách sáo, Thánh thượng nhắc đến công lao của ta nơi biên ải, không ngớt lời ngợi khen tuổi trẻ tài cao.
Cùng dự yến hôm ấy còn có Tướng quân Yến, người trấn thủ phía Nam, cũng là huynh ruột cùng mẹ với Thái hậu.
Tiểu hoàng đế hiện tại chẳng phải do Thái hậu sinh ra.Suốt bao năm nay, quyền bính nằm gọn trong tay Thái hậu, mãi đến khi Nhiếp chính vương dần nắm thực quyền, Thánh thượng mới dần bước vào giai đoạn thân chính.
Chỉ vài câu khen ngợi của hoàng đế dành cho ta, không khí liền trở nên kỳ lạ.
Vị hoàng đế nhỏ tuổi này thật không nể tình, lại dám đẩy mũi giáo dư luận về phía ta.
Ta vội nâng chén cười xòa, rồi một hơi uống cạn:
“Đội ơn Hoàng thượng quá khen. Vi thần lần này lập công cũng chỉ là may mắn. Vi thần vụng lời, xin lấy chén rượu này thay lời chúc — nguyện Đại Uyên quốc thái dân an, hưng thịnh thái hòa!”
Một chén rượu uống cạn, sắc mặt âm trầm của Yến tướng quân cũng dịu xuống đôi phần.Chúng thần thấy vậy liền vội vã nâng chén phụ họa.
Ta khẽ liếc sang, ánh mắt vô tình chạm phải bóng dáng Nhiếp chính vương Cố Trì vẫn lặng lẽ giữa tiệc, thanh lãnh như gió sớm.
Nghe đồn, hắn vốn là con riêng của Thụy Vương — đệ đệ tiên đế, thân mẫu chỉ là một cô nương ti tiện chuyên nghề mò ngọc.
Thuở nhỏ long đong trôi giạt, chịu đủ khổ cực nhân gian, bởi vậy tính tình lạnh lùng tàn khốc, mưu trí hơn người, trong số chư thần nhanh chóng vươn lên nổi bật.