Cao Ngọc Uyên không phải coi thường Bích di nương. Bích di nương là người thật thà, hiền hậu, tâm địa cũng không xấu, nhưng khuyết điểm nằm ở chỗ xuất thân của bà ta.
Thân phận a hoàn đã giới hạn tầm nhìn và khí độ của bà ta, thứ bà ta nhìn thấy chỉ là những chuyện trước mắt, chật hẹp trong một góc trời nhỏ bé. Nếu không, sao lại có câu “Rồng sinh rồng, phượng sinh phượng, con chuột thì chỉ biết đào hang” được lưu truyền chứ?
Chỉ nhìn việc Nhị tỷ trước kia làm ra ngay trước mắt bà ta mà không bị ngăn cản, Cao Ngọc Uyên đã quyết không để Bích di nương nhúng tay vào việc nuôi nấng đứa trẻ đó.
Thế nhưng Bích di nương lại không tự biết mình, còn cố tình nhờ Giang Đình chuyển lời, rằng bà ta bằng lòng vào vương phủ làm a hoàn lao động nặng nhọc, chỉ để được ở bên cạnh cháu ngoại.
Cao Ngọc Uyên nghĩ đến việc bà ta vừa mất con gái, không muốn nói quá nặng lời, nên khéo léo từ chối. Nhưng Bích di nương dường như không cam tâm, nhiều lần quỳ xin Giang Đình cầu xin thay bà ta.
Giang Đình hiểu tính tiểu thư, biết nàng nói một là một, chẳng buồn chuyển lời. Nhưng ông không nói, không có nghĩa là nàng không biết.
Vì thế, chuyện đi hay ở của Bích di nương bắt đầu trở thành mối bận tâm trong lòng Cao Ngọc Uyên. Nàng cố ý dặn La ma ma nhắc chuyện của Bích di nương trước mặt phu nhân Tạ gia, thăm dò phản ứng từ Tạ phủ.
Giờ thì tốt rồi, Tạ phủ bằng lòng giữ bà ta lại nuôi dưỡng. Vậy… Bích di nương có chịu về không?
La ma ma thấy tiểu thư im lặng, biết là nàng đang băn khoăn khó xử, vội vàng nói: “Tiểu thư tốt bụng quá. Theo nô tỳ thấy, chẳng qua chỉ là một câu thôi: hỏi bà ta có muốn giữ gìn tương lai của tiểu công tử hay không. Nếu muốn, thì ở yên tại Cao phủ. Tiểu thư đã bận trăm việc trong vương phủ, đâu thể để tâm đến một di nương mãi được?”
“Cho nên mới có câu: người đáng thương tất có chỗ đáng hận!” Cao Ngọc Uyên thở dài: “Ta đoán là bà ta không nhìn ra được điều đó.”
“Ai không nhìn ra thì nói cho rõ ràng!” A Bảo vén rèm bước vào: “Nếu đã nói rõ mà vẫn không hiểu, thì chỉ có thể đưa thẳng bà ta về Tạ phủ, tiểu thư nhất định không được mềm lòng.”
La ma ma tức giận lườm A Bảo, ra hiệu bảo nàng ngậm miệng.
Nhưng A Bảo vẫn hùng hồn nói: “Nếu tiểu công tử để bà ta chăm, với cái tính hiền lành, mềm yếu của bà ta, muốn sao được vậy, thì tiểu công tử sau này làm sao khá nổi?”
“Con nha đầu này! Trước mặt tiểu thư mà cũng dám lắm lời!”
“La ma ma, đừng mắng!” Cao Ngọc Uyên phẩy tay: “A Bảo nói đúng. Ngươi đến chỗ Quản thị, nhắn tỷ ấy đích thân đến Cao phủ một chuyến, hỏi Bích di nương có bằng lòng về Tạ phủ hay không?”
“Vâng, lão nô lập tức đi ngay!”
…
La ma ma trở về vào lúc chạng vạng tối, sắc mặt không tốt: “Tiểu thư, Bích di nương nói, thà đập đầu chết cũng không muốn trở về Tạ phủ.”
A Bảo buông tay khỏi món thêu, cười nhạt: “Bà ta tất nhiên không muốn về rồi, ở Cao phủ sung sướng biết bao, bao nhiêu người hầu hạ một mình bà ta, đến cả Giang Tổng quản cũng bị bà ta sai bảo cơ mà!”
Như Cúc liếc A Bảo một cái: “Ngươi bớt lời đi, để tiểu thư quyết định!”
Cao Ngọc Uyên nghĩ ngợi một lát, rồi nói: “Bà ta đã muốn ở lại thì cứ để lại. Như Dung, Cúc Sinh, mai hai người quay về Cao phủ, nói rõ quy củ nơi đó với bà ta. Trước kia Nhị tỷ mang thai, ta nhắm một mắt mở một mắt, chiều chuộng hết mực. Giờ thì không thể thế nữa.”
La ma ma vội nói: “Tiểu thư, hay là… để lão nô đi?”
“Ngươi đừng đi.” Cao Ngọc Uyên hờ hững đáp: “Ta để các nàng ấy đi là có dụng ý.”
Hôm sau.
Bích di nương vừa thấy hai a hoàn thân cận của vương phi là Như Dung, Cúc Sinh đến dạy quy củ, trong lòng lập tức thắt lại.
Ai cũng biết người được sủng ái nhất bên cạnh vương phi là La ma ma. Khi con gái bà ta còn sống, mọi việc lớn nhỏ đều do La ma ma đích thân thu xếp. Giờ lại sai hai nha đầu đến, ý của vương phi đã quá rõ ràng.
Thứ nhất, Bích di nương chẳng quan trọng đến thế. Thứ hai, đừng mơ chuyện vào vương phủ.
Tiễn hai người xong, Bích di nương về phòng òa lên khóc nức nở: “Ôi cháu ngoại nhỏ bé đáng thương của ta!”
…
Một trận tuyết lớn vừa qua chưa được hai ngày, kinh thành lại đón bão tuyết, khiến không ít người chết cóng.