Túy lê nhập mộng, dễ sinh ác mộng, chuyên khơi dậy chiếc gai mềm nhất giấu sâu trong đáy lòng.
Song cửa được khều mở một khe nhỏ, viên hương lăn vào lò đồng. Khói xanh uốn lượn, như một sợi dây vô hình.
Một nén hương trôi qua, Tiêu Yến gục đầu trên án mà ngủ, giữa mày nhíu chặt. Ta đẩy cửa, không tiếng động, ngồi xuống mép tháp.
Ánh trăng nghiêng rọi, hàng mi hắn đổ bóng vụn vặt. Đôi môi mỏng khẽ hé, tiếng mộng ngữ rất nhẹ:
“Lê nhi…”
Đầu ngón tay ta lướt dọc theo sống mày hắn, giọng thấp như một tiếng thở dài:
“Vương gia, người gọi là Khương Lê, hay là Dung Uyển Hề?”
Câu trả lời không quan trọng. Quan trọng là hắn đã gọi, ta đã nghe thấy, vậy là đủ.
Ta trải tờ tuyên trắng trên án, vài nét bút đã thành một bức đồ lê hoa.
Nét cuối cùng khép lại, ta đỡ Tiêu Yến bước về giường.
Khi trời sắp sáng, bên tai chợt nghe hắn hít mạnh một hơi:
“Nàng… sao lại ở đây?”
Ta giả vờ bừng tỉnh, đáy mắt phủ sương mỏng…
“Đêm qua th/i/ế/p đến đưa trà cho vương gia. Thấy vương gia gục ngủ bên án, sợ người nhiễm lạnh nên mới đỡ người lên giường. Không ngờ vương gia lại nắm tay th/i/ế/p không chịu buông. Chuyện này… vương gia quên rồi sao?”
Tiêu Yến nhất thời không nói nên lời. Hắn vội vàng đứng dậy, rồi liếc thấy bức tranh hoa lê đặt trên bàn.
“Bức này là…”
“Có đẹp không? Vương gia đề cho một hàng chữ đi.”
Tiêu Yến cầm bút lên, dừng lại một thoáng, rồi viết bốn chữ:
“Đêm xuân bẻ nhành lê.”
Hắn đứng trước bàn, đầu ngón tay khẽ vuốt lên đóa lê bị khuyết một cánh, như chạm vào một vết sẹo cũ.
Rất lâu sau, hắn chỉ để lại một câu:
“Đem đi đóng khung, đừng để bám bụi.”
Ta cúi đầu, dáng vẻ ngoan ngoãn:
“Th/i/ế/p xin nghe theo.”
Ba ngày sau, ta “làm đúng lời dặn”, mang tranh đi đóng khung, cố ý chọn kiểu phô trương nhất. Lụa nền màu ngỗng vàng rực, hoa lê điểm trắng như tuyết, bên ngoài là khung lưu ly, bốn góc nạm vàng.
Đóng khung xong, ta đích thân áp giải, làm rầm rộ, đi vòng nửa vương phủ, rồi mới treo vào tẩm điện của Tiêu Yến.
Móc vàng gõ vào vách ngọc, “ting” một tiếng, như gửi tín hiệu cho khắp nơi trong phủ:
chính phi được sủng trở lại, trắc phi bắt đầu thất thế.
Tin truyền ra ngoài. Sáng hôm sau, thánh chỉ của hoàng thượng liền đến trước, triệu ta vào cung “ngắm hoa”.
Trong ngự hoa viên, hoàng thượng nghiêng đầu nhìn ta, ánh mắt như chiếc cân đang cân đo:
“Nghe nói A Yến đã đem cả khung lưu ly ngự ban cho ngươi?”
Ta quỳ xuống, trán chạm nền gạch:
“Tâu bệ hạ, là vương gia ưu ái. Th/i/ế/p thân vô cùng lo sợ.”
“Biết sợ là tốt. Biết sợ, mới xứng làm chính phi.”
Hoàng thượng giơ tay, ra hiệu cho ta đứng dậy, rồi đột ngột đổi giọng:
“Nhưng chính phi mà không có con, thì dù có sợ đến đâu cũng vô ích. Hai người các ngươi đã viên phòng, trẫm sẽ giúp thêm ngươi một lần.”
Ngài vỗ tay. Viện phán Thái y viện lập tức bước nhanh lên trước, hai tay nâng khay lụa đỏ. Trên khay là một bát thuốc đen đặc, hơi nóng bốc lên lượn vòng như rắn nhỏ.
“Thuốc dưỡng thai. Trẫm ban cho ngươi. Trong vòng một tháng, nhất định sẽ thêm cho vương phủ một đích tử.”
Ta đưa hai tay đón lấy. Nhiệt nóng khiến đầu ngón tay tê dại, nhưng nụ cười vẫn ôn hòa:
“Tạ ơn long ân của bệ hạ.”
Khi bát thuốc chạm đến môi, trong khóe mắt ta thoáng thấy sau hòn giả sơn một góc váy hồng.
Là Dung Uyển Hề.
Sắc mặt nàng trắng bệch, đầu ngón tay siết chặt khăn lụa, hoa lê thêu trên khăn bị vò đến nhăn nhúm.
Ta nâng bát thuốc lên, hướng về phía nàng từ xa, dùng khẩu hình gửi hai chữ:
Kính rượu.
Thuốc vào miệng, đắng gắt đến tanh cổ, nhưng ta uống sạch không sót một giọt.
Bát rỗng úp trở lại khay, vang lên một tiếng giòn, như tiếng trống gõ xuống.
Vở diễn, chính thức bắt đầu.
Nửa tháng sau, ta được chẩn ra… hỉ mạch.
Viện phán Thái y viện đích thân bắt mạch. Tiêu Yến đứng bên cạnh, vẻ mặt phức tạp như bảng màu bị lật đổ. Vui mừng, kinh ngạc, nghi ngờ, sợ hãi… mỗi thứ một phần.
Ta nghiêng người nằm trên giường, đưa tay khẽ đặt lên bụng dưới vẫn còn phẳng, giọng nhẹ như lông vũ: