1.
Thấy ba người đứng chễm chệ trước cổng, tôi khựng lại mất một nhịp.
Phải mất vài giây tôi mới nhận ra họ là ai.
Tần Dung khoác áo lông chồn mềm mượt, tóc búi cao kiêu hãnh, từ trên cao liếc xuống tôi, khóe môi cong một nụ cười nhạt.
“Khả Yên, trông chị gầy rộc đi rồi đấy.”
Tôi cúi nhìn chiếc váy đã bạc màu vì giặt đến sờn chỉ, bật cười trong yên lặng.
Phải thôi.
Làm sao cô ta – người được Thẩm Nhất Lễ nâng niu như báu vật – có thể hiểu nổi tôi đã phải chống chọi thế nào để giữ căn nhà này qua thời loạn lạc.
Bảy năm trước, khi tôi mang thai, anh ta bỏ mặc tôi một mình, ngày nào cũng chạy sang nhà góa phụ Tần Dung.
Anh ta nói đó là di ngôn của thầy, là trách nhiệm không thể trái lời.
“Anh thiếu nợ cô ấy. Em không thể nhường nhịn một chút sao?”
Vì cô ta sức khỏe yếu, anh ta thẳng tay lấy đi củ nhân sâm trăm năm trong của hồi môn của tôi, chẳng chút do dự.
Chúng tôi tranh cãi dữ dội. Trong lúc giằng co, anh ta đẩy tôi – khi ấy đã cận ngày sinh – ngã chúi xuống đất.
M/áu tràn ra, đỏ sẫm cả nền gạch.
Tôi hoảng loạn cầu xin anh ta đi gọi đại phu.
Nhưng ánh mắt anh ta lạnh đến mức còn hơn cả gió thu.
“Dung nhi còn đang chờ anh cứu mạng.”
Dứt lời, anh ta quay lưng bỏ đi.
Và cùng biến mất với anh ta chính là Tần Dung.
Người trong phủ xì xào nói họ đã trốn đi cùng nhau.
Còn tôi – chỉ còn lại một khoản nợ lớn đè nặng đến nghẹt thở.
Khắp thành rộ lên chuyện phong lưu của Thẩm Nhất Lễ, không quên chế giễu tôi – người đàn bà vô dụng, giữ không nổi trái tim chồng.
Tôi không dám bước chân ra khỏi cửa.
Mùa thu năm ấy, giữa tuyệt vọng mênh mang, tôi sinh con gái – đặt tên là Thiều Hoa.
Và chính giây phút đó, tôi tìm thấy trong mình một nguồn dũng khí chưa từng có.
Tôi gạt bỏ kiêu hãnh, cũng vứt luôn tự trọng, ngày đêm bươn chải chỉ để cái nhà này không sập xuống.
Thẩm Nhất Lễ nhìn tôi, đáy mắt thoáng hiện sự áy náy.
“Khả Yên, mấy năm qua… em khổ rồi.”
Tôi cúi đầu, giữ im lặng.
Không trách móc, không tủi thân, cũng chẳng vui mừng khi gặp lại.
Chỉ là… giờ tôi đã không còn gì muốn nói nữa.
2.
“Mẹ ơi, họ là ai vậy?” Thiều Hoa khẽ kéo vạt áo tôi, thì thầm hỏi.
Thẩm Nhất Lễ đỏ hoe mắt, bàn tay hơi run, chìa về phía con bé:
“Con gái… lại đây với cha nào.”
Chữ “cha” đối với Thiều Hoa xa lạ đến nỗi nghe như một từ ngoại quốc.
Con bé lập tức tránh sang một bên, rồi phóng thẳng vào lòng tôi.
Anh ta khựng lại, ánh mắt thoáng hiện vẻ bối rối.
Bầu không khí ngay lập tức trở nên nặng nề, gượng gạo.
Tôi cong môi, giọng nhẹ như gió:
“Bảy năm trời chẳng một lời hồi âm, tôi còn tưởng anh m/ấ/t xác ở phương nào rồi.”
Tôi thật sự không hiểu vì sao anh ta bỗng dưng quay về vào lúc này.
Anh ta nhíu mày, muốn nói gì đó nhưng lại nuốt xuống.
Dù sau đó đã cố đưa ra đủ lý do, Thiều Hoa vẫn lạnh lùng xoay mặt đi, từng chữ dằn như đá rơi:
“Bỏ mặc mẹ con tôi ở Giang Thành, rồi theo người đàn bà khác sinh con đẻ cái, tôi không có loại cha như vậy.”
Con bé trưởng thành trong những ngày tháng thiếu thốn và xoay xở, sớm đã chín chắn hơn bạn bè đồng trang lứa.
Trong cảnh đời rối ren này, tôi không thể nuôi nó thành một đóa hoa yếu ớt trong nhà kính.
Vì tôi biết rõ, đàn bà mà quá hiền lành, quá mềm lòng… thì sớm muộn gì cũng bị cuộc đời xé nát.
Lời Thiều Hoa nói ra như một mũi kim đâm thẳng vào lớp vỏ bình thản mà Thẩm Nhất Lễ đang gắng giữ.
Tôi thấy bờ vai anh ta khẽ run.
Sắc mặt anh ta tái đi, giọng hạ xuống, hỏi tôi:
“Khả Yên… em dạy con kiểu gì vậy?”
Nhưng khi thấy nét mặt tôi dửng dưng, không gợn chút cảm xúc, anh ta chợt lúng túng, đành đổi giọng:
“Thôi… lần này anh trở về là sẽ không đi nữa. Sau này để anh dạy dỗ Thiều Hoa.”
3.
Toàn bộ đồ đạc của tôi và Thiều Hoa đã được gửi đi gần hết ra nước ngoài.
Gian chính trong nhà cũng đã thu xếp sạch sẽ.
Thẩm Nhất Lễ có vẻ bất ngờ khi thấy tôi “biết điều” đến mức này.
“Anh còn tưởng em sẽ làm ầm lên, để anh khó xử chứ.”
Anh ta bật cười nhạt. “Giỏi đấy, Khả Yên.”