11.
Chàng đi rồi, nhị đệ liền thúc ta viết thư hồi âm.Một thời gian dài, ta chẳng biết nên viết gì. Bao nhiêu nỗi niềm cuộn trào trong lòng, cuối cùng chỉ hóa thành mấy dòng chữ vắn tắt:"Đào trong sân đã nở, chàng nhớ giữ gìn sức khỏe, ta đợi chàng trở về."
Chờ mãi...Năm sau, đào lại nở.Yến bay về.Vẫn chẳng có lấy một tin báo đoàn viên.
Không chỉ ta bữa ăn chẳng vô, đêm ngủ chẳng yên, mà cả nhà cũng đều như ngồi trên đống lửa.Mẹ chồng ngày nào cũng mong ngóng, khóc đến đôi mắt mờ mịt. Ba chị em dâu thay phiên sắc thuốc, đắp dược liệu cho bà.Chuyện dựng nhà của nhị đệ chẳng ai còn nhắc tới. Kim Ngọc có lần giục, nhị đệ chỉ nhàn nhạt đáp:"Tiền còn đó, đại ca chưa về, lòng ta chưa yên."
Tiểu Nhụy rảnh rỗi là lại sang phòng ta, kể chuyện cười giúp khuây khỏa. Ta biết, muội ấy sợ ta nghĩ quẩn.
Một hôm, mẹ chồng gọi ta đến, từ trong rương gỗ lấy ra một phong thư, chính là hòa ly thư.Bà đặt lên bàn, chậm rãi nói...
Đại lang từng nói, may mà hai người chưa có con, ta cũng dứt khoát ra đi, còn có thể tìm được người tốt khác, chớ vì chàng mà thủ tiết cả đời.
Nghe xong, nước mắt ta như suối trào, đau đến gan ruột đứt đoạn.Chàng tính toán cho ta chu toàn đến vậy... Nhưng trái tim ta đã sớm bị chàng lấp đầy, còn chỗ nào dung nổi người khác nữa?
Ta quỳ rạp dưới chân mẹ chồng, liên tục lắc đầu:“Con dâu dù có chết, cũng quyết không hòa ly.”
Khi cái nóng mùa hạ cũng lạnh đến thành đông, mẹ ta lại tìm đến cửa.
Lần này bà đến là để nói mối hôn sự mới — làm thiếp cho một thương nhân họ Chu trong thành.Bà bảo, tuy Chu lão gia đã ngoài bốn mươi, nhưng không chê ta là người đã có chồng, lại còn bằng lòng đưa sính lễ hậu hĩnh.
Nhớ năm xưa, cái gọi là “gả con liên thân với nhà họ Lưu” của bà, thực chất là bỏ thuốc vào chén trà, để đệ đệ biến sinh gạo thành cơm chín.
Nhưng nhà họ Lưu đâu phải hạng dễ bắt nạt?Cho dù con gái họ có phải cả đời không xuất giá, cũng nhất quyết không chịu nuốt món cơm sống nửa sống nửa chín đó. Họ còn muốn đệ đệ ta trả giá bằng cả mạng sống.
Khi ấy, mẹ ta khóc đến tan nát cõi lòng, chạy đến tìm ta cầu xin cứu vớt.Ta còn có thể có cách gì chứ? Nhà họ Lưu chẳng thiếu tiền, chỉ có thể trơ mắt nhìn đệ bị người ta dẫn đi.
May thay, phu nhân nhà họ Lưu niệm tình ăn chay tụng kinh, hạ một chút lòng thương, không đoạt mạng, chỉ sai người đánh gãy hai chân đệ đệ.
Bây giờ, bà không còn dám kén chọn nữa.Chỉ cần là có nữ nhân bằng lòng gả vào, dù có xấu hay nghèo, bà đều chịu.
Ta đối với nhà mẹ đẻ đã hoàn toàn nguội lạnh, lạnh nhạt cự tuyệt:
“Mẹ đừng mơ tưởng nữa, cả đời này ta tuyệt đối không tái giá.”
Mẹ ta cố nặn ra nụ cười lấy lòng:
“Ta biết con còn nhớ thương A Viễn, nhưng từng ấy năm chẳng có tin tức, ai mà biết được là sống hay chết? Con còn trẻ, chẳng lẽ định thủ tiết cả đời sao?”
Ngoài cửa sổ chợt vang lên một giọng nam trầm ổn:
“Nhờ phúc của nàng ấy, ta vẫn còn sống, không phiền nhạc mẫu nhọc lòng.”
Gió tuyết rít gào bên ngoài, bóng dáng quen thuộc đứng đó, râu tóc đều đã điểm bạc, chẳng rõ là do sương tuyết hay do tháng năm.
Ta lập tức chạy lao về phía chàng, bao nhiêu tủi hờn, nhung nhớ, uất nghẹn dồn nén bấy lâu dâng trào trong khoảnh khắc, chưa kịp mở lời, nước mắt đã trào ra.
A Viễn dang rộng hai tay, đem ta ôm chặt vào lòng, siết chặt không rời.
12.
Tính toán của mẫu thân không thành, bà hậm hực rủa thầm một tiếng rồi giận dỗi bỏ đi.
Tiểu viện bỗng chốc náo nhiệt hẳn lên. Nhị đệ, tam đệ đều ra đón, Tiểu Thúy và Kim Ngọc lau vội nước mắt, xoay người vào bếp đun nước nóng.
Lục Viễn tóc tai bù xù, áo bông dính dầu sáng bóng, dáng dấp như dã nhân, cười ngốc nghếch nói một câu:“Phụ mẫu, con về rồi đây.”
Mẹ chồng nhìn chàng từ đầu đến chân, lệ già rơi lã chã, nghẹn ngào gọi một tiếng:“Con ơi…”
Cha chồng đứng bên cạnh cũng đỏ hoe vành mắt.
Đêm đến, chờ chàng tắm rửa sạch sẽ xong, mới nhìn rõ những vết sẹo lớn nhỏ chi chít khắp người. Có chỗ là vết bỏng do tia lửa văng trúng, có chỗ là vùng da cháy nám, cánh tay còn mang dấu sẹo do vô ý bị sắt nung làm phỏng.
Ta run run đưa tay chạm vào từng vết thương, lòng xót xa không nguôi.
Chàng nắm lấy tay ta, dịu giọng trấn an:“Mấy vết thương cỏn con ấy đã sớm không còn đau nữa. Chỉ cần toàn mạng trở về, đã là trời cao thương xót.”
Nhưng sao lại không đau? Chàng đâu phải thân đồng da sắt, cũng có lúc mỏi mệt, cũng biết đau, cũng nhớ nhà, cũng từng muốn buông xuôi…
Chàng kể lại quãng thời gian ở trong quân doanh bằng giọng đều đều, nhẹ nhàng như nói chuyện thường ngày:“Dù phải ngày đêm đẩy nhanh tiến độ, nhưng mỗi ngày đều được ăn uống đầy đủ, còn có cao dán và thuốc trị bỏng loại tốt nhất. Có điều cường độ quá nặng, không phải ai cũng chịu nổi. Trong hai mươi người thợ rèn cùng vào doanh trại, chỉ còn bốn người sống sót trở về. Hai người mù một mắt, một người què một chân.”
“Nếu không phải vì nghĩ đến việc nàng vẫn đang chờ ta nơi quê nhà, e là ta đã chẳng thể gắng gượng nổi. May mà Đại nhân họ Phí là bậc chính trực, chẳng những ban thưởng bạc bồi thường cho gia quyến của những người bị thương tật, mà bọn ta hoàn thành tốt nhiệm vụ cũng được ban thêm không ít vật phẩm. Ta đã đem đi bán lấy tiền cả rồi.”
“Hễ thứ gì bán được là ta bán hết, chỉ giữ lại mỗi cây trâm vàng khắc hoa hợp hoan này, cố tình mang về cho nàng.”
Chàng lấy từ trong tay nải ra, đích thân cài lên tóc cho ta.
“Ta từng hứa với nàng, sẽ thay đóa hoa nhung năm ấy bằng một cây trâm bằng vàng.”
Ta đưa tay khẽ vuốt khuôn mặt chàng, hơi ấm từ lòng bàn tay truyền đến khiến ta không kìm được rơi nước mắt — tất cả đều thật, người đã thật sự trở về bên cạnh ta rồi.
Đêm xuống, chàng như muốn bù đắp tất cả nhớ thương, không biết mỏi mệt mà đòi hỏi ta hết lần này tới lần khác. Đến lúc cuối cùng mệt đến mềm nhũn, đầu vùi sâu vào hõm cổ, giọng chàng khàn khàn nói:
“A Oánh, chúng ta sinh một hài tử đi.”
“Ta muốn xây nhà mới, may y phục mới, đem những thứ tốt đẹp nhất trên đời này, tất thảy đều dành cho nàng và con.”
13.
Chọn được ngày lành tháng tốt, bọn họ đốt một tràng pháo, tìm thợ, nấu một nồi lớn đầy thức ăn — chính thức khởi công!