2
Hoàng thượng phong cho ta làm Đức phi, danh xưng hiền lương thục đức, là người xếp cuối trong Tứ phi.
Ngự sử Triệu Thủ Hòa lại nhảy ra: “Hoàng thượng xin nghĩ lại! Nhà họ Thẩm tuy đời đời trung liệt, nhưng nay đã sa sút. Không còn nhân tài vì triều đình mà cống hiến, cũng chẳng có tài lực hậu thuẫn để giúp bệ hạ an bang định quốc. Phong cho nàng một tần vị đã là đại ân, nào cần phải phong đến phi vị...”
Hừ! Tốt lắm Triệu Thủ Hòa, dám công khai nói nhà mẹ đẻ ta vô dụng dễ bắt nạt?
“Triệu ngự sử quên rồi sao, bản tướng quân hiện là Nhất phẩm Đại tướng quân trong triều. Dù không làm Hoàng hậu, làm Quý phi vẫn còn dư sức. Ông nói nhà mẹ ta không có nhân tài, ba quân đủ chưa? Ông nói ta không có tài lực, thành trì Tây Nguyệt đủ chưa?”
Sở dĩ Hoàng thượng nhường nhịn ta khắp nơi, là vì người không muốn cùng ta trở mặt. Nếu ta thật sự tạo phản, tổn thất của người e rằng không thể đong đếm nổi! Những lời này, chính là cố ý để người nghe.
“Triệu ngự sử, càn rỡ! Hậu cung của trẫm, trẫm muốn phong ai vị nào, khi nào đến lượt ngươi lắm miệng? Hay ngươi muốn lên ngôi thay trẫm?”
Triệu Thủ Hòa sợ đến mức dập đầu như giã tỏi: “Thần không dám, thần biết tội...”
“Giáng Lương phi xuống làm Lương tần. Từ nay ai dám khinh thường Đức phi, trẫm tuyệt không tha!”
Lương phi chính là con gái của Triệu Thủ Hòa là Triệu Yên. Chỉ vì một câu của phụ thân, nàng ta bị giáng vị. Khó trách người đời thường nói: triều đình hậu cung, gắn bó sâu sắc.
“Hoàng thượng anh minh!” Triệu Thủ Hòa tức đến nội thương mà vẫn phải cúi đầu tung hô.
Việc ta phong phi coi như đã định. Nửa tháng sau tiến cung. Dù bá quan văn võ có bất mãn hay không cam lòng đến mấy, cũng không dám hé miệng nửa lời.
Sau khi yến tiệc kết thúc, Hoàng thượng lại đích thân đưa ta hồi phủ. Mọi người tròn mắt há hốc, chỉ có ta trong lòng cười thầm, vô sự mà ân cần, ắt có mưu đồ.
Cấm quân hộ giá, thêm cả tùy tùng binh sĩ của ta, hàng ngũ kéo dài oai phong hiển hách.
Chiếc kiệu rồng dùng cho hoàng gia vô cùng êm ái, nhưng ta lại ngồi không yên, chỉ bởi người đối diện, khí thế quá mạnh.
Tuy trên mặt người luôn nở nụ cười nhàn nhạt, nhưng ta chỉ dám ngoan ngoãn để tay lên gối, chăm chú cào móng tay.
“Sao vậy, sợ ta sao?”
Người không xưng “trẫm”, mà là “ta”.
“Hoàng thượng là chân long thiên tử, thần vô cùng kính sợ.” Ngồi gần thế này, kiệu lại nhỏ như vậy, ta căn bản không dám ngẩng đầu nhìn người.
“Vừa rồi trên yến tiệc, chẳng phải nàng rất lợi hại sao?”
“Hoàng thượng nói đùa, thần là bị họ bức đến đường cùng thôi.”
“Nhìn ta.”
Ta lấy hết dũng khí ngẩng lên, liền thấy gương mặt không hề in dấu thời gian kia càng thêm anh tuấn đến nghẹt thở.
“Thừa Cảnh, là tên của ta, Tiêu Thừa Cảnh.” Giọng người không còn vang vọng như trước, mà thấp nhẹ dịu dàng, mang theo ý mê hoặc.
Ta vội cúi đầu xuống: “Thần nhớ rồi, nhưng tên húy của Hoàng thượng không thể gọi thẳng...”
Người khẽ thở dài: “Từ sau khi Hoàng hậu qua đời, chưa từng có ai gọi lại tên ta. Đến cả ta cũng suýt quên mình tên là ‘Thừa Cảnh’.”
Ta chưa kịp đáp, người đã tự mình kể tiếp.
“Năm đó, trong một yến tiệc trong cung, có một tiểu cô nương vô tình xông vào thư phòng phía nam, đứng trước tranh vẽ ta mà gọi tên ta, nói muốn tìm người trong tranh, lấy làm phu quân...” Nghe tiếng người trầm thấp kể lại, trong đầu ta hiện lên một ký ức đã bị quên lãng từ lâu.
Năm ta mười lăm tuổi, theo phụ thân vào cung dự yến, một mình dạo chơi trong ngự hoa viên thì đi lạc, vô tình lạc vào một tòa cung điện. Tại đó, ta trông thấy một bức họa chân dung nam tử tuấn tú khiến lòng say mê. Ta lẩm bẩm cái tên “Thừa Cảnh” ở góc tranh, từ đó sinh lòng muốn lấy người trong tranh làm chồng.
Sau đó, ta thật sự lén lút khắp nơi dò hỏi xem có ai tên Thừa Cảnh hay không, nào ngờ ai cũng né tránh không đáp. Vì người trong tranh ấy, ta đã đuổi hết bao nhiêu người đến cầu thân, mãi không định nổi một mối hôn sự. Sau đó lên chiến trường, dần dà quên mất chuyện này.
“Thừa Cảnh!” Ta bật thốt. “Là ngài?”
“Ừ? Ừ, là ta!”
Mặt ta nóng rực, trời ơi, đúng là ta ăn gan hùm rồi!
“Xin lỗi, thần... khi ấy không biết là...”