1
Tôi và Giang Cẩm Niên đã kết hôn được năm mươi năm. Ai ai cũng nói chúng tôi là vợ chồng tình thâm, là hình mẫu của hôn nhân.
Trước khi phát hiện tờ di chúc kia, tôi cũng nghĩ vậy.
Nhưng giờ đây, tôi mới thấy mình thật nực cười, sống trong giấc mộng đẹp mà Giang Cẩm Niên đã dệt nên.
Giấc mộng vỡ rồi, tôi cũng nên tỉnh lại thôi.
Nói là di chúc, thật ra đó là bức thư ông ấy viết cho con trai Giang Minh Viễn.
Trong thư, ông tỉ mỉ dặn dò về người đồng nghiệp năm xưa Thẩm Nguyệt Vân về những gian truân mà bà ta phải chịu đựng.
Ông viết: sau khi ông qua đời, mẹ con bà ấy sống khổ sở, cô độc không ai nương tựa, dễ bị người khác bắt nạt.
Ông dặn Giang Minh Viễn mỗi tuần đều phải qua thăm nom, chăm sóc.
Phần cuối thư là những tài sản ông để lại cho hai mẹ con đó:
Một căn nhà ngay trung tâm thành phố, gần năm trăm nghìn tiền gửi tiết kiệm.
Căn nhà đó tôi còn nhớ, là thành quả sau hai mươi năm làm việc của ông. Không lâu sau, tôi nghe ông nói đã bán đi, bảo là cho bạn mượn gấp để xoay vòng vốn, rất khẩn cấp.
Sau này căn nhà ấy tăng giá gấp nhiều lần, tôi thấy tiếc nhưng cũng chưa bao giờ trách móc.
Hóa ra… không phải bán đi, mà là âm thầm sang tên cho con trai, rồi căn dặn con sau khi ông mất sẽ chuyển cho người tình trong mộng.
Trong thư gần như không nhắc đến tôi. Chỉ đến dòng cuối, ông mới để lại một câu:
“Mẹ con và ta đã bên nhau nửa đời người, tận hưởng nửa đời hạnh phúc. Hiện tại căn nhà bà ấy đang ở và số tiền còn trong thẻ đủ để bà sống tiếp. Bà ấy vốn giản dị tiết kiệm, còn dư lại hai trăm nghìn cũng là đủ rồi… Nhưng dì Thẩm của con thì khác, bà ấy mồ côi không còn người thân, chỉ còn lại một cô con gái. Nghĩ đến việc hồi nhỏ dì Thẩm hay dẫn con ra ngoài chơi, mua đồ ăn cho con, con cũng nên thay ta chăm lo cho hai mẹ con họ…”
Tôi bỗng thấy nực cười đến khó hiểu, thấy mình thật bi ai.
Người vợ đầu gối tay ấp với ông nửa đời người như tôi, lại không bằng bóng hình “bạch nguyệt quang” chưa từng chung sống với ông một ngày.
Ông để lại cho mẹ con Thẩm Nguyệt Vân năm trăm nghìn, chu toàn mọi bề, thậm chí còn dặn con trai thay mình chăm sóc họ.
Còn đối với người vợ chính thất như tôi, chỉ có vài câu hời hợt, lạnh nhạt.
Trong lòng tôi dâng lên nỗi bi thương khôn cùng bi thương vì năm mươi năm qua của tôi hóa ra chỉ là công cốc, bi thương vì sao đến tận giờ phút này mới nhận ra, để rồi uổng phí cả nửa đời người bên ông.
Đáng thương, đáng hận…
2
“Sao còn chưa tới? Về nhà lấy quần áo, nấu bữa cơm thôi mà cũng mất từng ấy thời gian?”
Vừa bắt máy, bên kia đã xả một tràng trách mắng.
Nếu là trước đây, người đầu tiên xin lỗi luôn là tôi.
Tôi hiểu cho ông ta, vì tuổi già sức yếu nên dễ bực bội.
Tôi cũng hiểu cho ông ta người từng rực rỡ nửa đời giờ phải giam mình trong căn phòng bệnh viện chật hẹp.
Nhưng sự cảm thông của tôi đổi lại được gì?
Tôi hít sâu một hơi dài, mệt mỏi lan khắp thân thể:
“…Cẩm Niên, tôi đã thấy bức thư anh giấu trong góc sâu nhất tủ áo rồi. Anh có gì muốn nói không?”
Đầu bên kia sững lại, im lặng vài giây rồi bùng nổ cơn thịnh nộ:
“Tô Tú Tuyết! Cô dám động vào đồ của tôi? Tôi đã nói bao nhiêu lần, đừng có tự tiện mở tủ đồ của tôi!”
Giọng ông ta gắt gỏng:
“Cô đừng nói là đã đọc bức thư đó rồi nhé? Đó là đồ của tôi, cô lấy tư cách gì mà xem? Sống với cô từng này năm, sao cô vẫn không chịu hiểu lời tôi nói hả!”
Ông cấm tôi động vào đồ của ông, nhưng trong căn nhà này, có thứ gì không phải do tôi thu vén, sắp xếp?
Thấy tôi im lặng, Giang Cẩm Niên càng nổi đoá:
“Cô xem xong còn dám trưng bộ mặt đó với tôi? Mau mang đồ ăn tới đây, tôi đói muốn chết rồi…”
Tôi đâu phải không nhìn ra ông đang cố lảng tránh vấn đề.
Nhưng tôi không nuốt nổi cục nghẹn này.
Từ ngày đầu tiên gặp mặt, tôi đã nói rõ với ông:
“Em không chịu được bất kỳ sự bẩn thỉu nào trong tình cảm. Nếu anh phản bội, hãy nói ngay cho em, em sẽ rời đi.”
Ông ta từng đồng ý.
Tôi còn nhớ rõ gương mặt ngượng ngùng, đôi mắt sáng rực của ông ta khi ấy:
“Tú Tuyết, sẽ không bao giờ có ngày đó. Anh yêu em, cả đời này anh sẽ chứng minh em đã không chọn sai.”