Tôi luồn tay vào lớp lót của chiếc rương gỗ, lấy ra một chùm chìa khóa đồng cũ kỹ.
Chìa nặng, sờ vào vẫn còn ấm hơi người – là mẹ tôi năm xưa tự tay trao lại, nói:
“Vãn Thu, sau này nếu có chuyện gì, cứ về đây. Đây mới là nhà con.”
“Cạch!”
Ổ khóa bật mở.
Một âm thanh trầm đục, nhưng vang như một lời tuyên bố:
Tôi trở về rồi.
Tôi dồn sức đẩy cánh cổng gỗ nặng nề, lập tức một luồng bụi dày đặc và mùi gỗ mục lâu ngày ập thẳng vào mặt.
Trong sân, cỏ dại mọc um tùm, cao gần ngang người. Mái nhà chính đối diện phủ đầy rêu đá và dây leo. Cửa sổ giấy của hai gian nhà Đông – Tây đã rách tả tơi, trông như những cái miệng há ngoác ra giữa đêm đen.
Tất cả... còn tàn tạ hơn những gì tôi tưởng tượng.
Vậy mà khoảnh khắc nhìn thấy nó, tim tôi lại lần đầu tiên sau rất lâu – bình yên đến lạ.
Không có đèn chùm pha lê lấp lánh.
Không có thảm trải sàn đắt đỏ.
Không có tiếng cười của Triệu Kiến Quốc và Tiểu Nhã.
Cũng chẳng có lời mỉa mai chua chát của Trương Quế Phân.
Nơi này chỉ có sự tĩnh lặng.
Và tôi.
Tôi kéo chiếc rương gỗ vào sân, khép cánh cổng lại.
Thế giới bên ngoài – ồn ào, xa hoa, giả tạo – bị tôi khóa lại từ giây phút đó.
Tôi không vội thu dọn.
Chỉ lặng lẽ ngồi xuống bậc đá giữa sân.
Trên cao, trời đêm trong vắt. Trăng sáng như gương, sao thưa mà rõ ràng.
Tôi mở nắp chiếc rương cưới.
Không có vàng bạc châu báu bên trong.
Chỉ là vài món đồ cũ của mẹ:
Vài bộ sườn xám nền nã, một bộ văn phòng tứ bảo đã ngả màu thời gian, cùng một xấp sách bọc giấy da trâu cẩn thận.
Tôi cầm lên cuốn đầu tiên, giấy đã ố vàng, nhưng nét chữ trên trang vẫn thanh thoát, quen thuộc:
《Hoa Kinh》 – Kinh thư về hoa.
Mẹ tôi từng là một trong những nghệ nhân làm vườn danh tiếng nhất thành phố.
Bà yêu hoa, hiểu hoa, có thể biến bất kỳ gốc cỏ bình thường nào thành một đóa hoa lay động lòng người.
Căn viện này, từng là vườn hoa của bà.
Góc Đông là hàng hải đường, góc Tây phủ đầy tường vi.
Chính giữa sân có một bể nước, nuôi vài con cá chép Nhật và một hồ sen nhỏ.
Mỗi độ xuân về, hoa nở kín vườn, hương thơm ngào ngạt, bướm bay về rập rờn.
Từ ngày lấy Triệu Kiến Quốc, tôi chưa từng chạm lại vào những điều này lần nào nữa.
Trương Quế Phân từng nói:
Chăm hoa chăm cỏ là kiểu rảnh rỗi của mấy người tiểu tư sản.
Sống cho ra sống thì phải lo cơm nước, bát đũa, bếp núc – mới là chính đạo.
Triệu Kiến Quốc thì bảo:
“Anh bận làm ăn, không có thời gian rảnh rỗi ngắm mấy thứ hoa hẹ. Em lo cho gia đình là tốt nhất.”
Thế là tôi xếp lại mọi sở thích của mình,
Cắt đi bộ móng tay dài mà tôi từng tỉ mỉ chăm chút,
Tự mình bước vào bếp, lao vào từng chuyện vặt vãnh không tên của đời sống gia đình.
Tôi từng nghĩ, đó gọi là “hy sinh vì tình yêu.”
Nhưng giờ nghĩ lại,
Chỉ là tôi tự cảm động với những ảo tưởng của chính mình.
Một người không yêu bạn –
Dù bạn có vì anh ta thay đổi bản thân ra sao,
Cũng chẳng đáng một cái ngoái đầu.
Tôi khép cuốn sách lại,
Thò tay xuống đáy rương, lấy ra một vật.
Một chiếc hộp nhỏ được bọc kín bằng vải đỏ.
Tôi mở hộp ra — bên trong là một cuốn sổ tiết kiệm và một tờ giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà.
Trên tờ giấy nhà đất, ghi tên chủ sở hữu: Lâm Vãn Thu.
Trên sổ tiết kiệm, tên tài khoản cũng là tôi.
Đây là thứ mẹ trao cho tôi trước khi đi lấy chồng.
Lúc đó bà nói:
“Vãn Thu, đây là chỗ dựa mẹ để lại cho con.
Nếu chồng con yêu con, thì chỗ này là điểm tô thêm phúc phần.
Nếu chồng con không đáng dựa, thì đây chính là đường lui của con.”
Tôi khẽ vuốt lên tờ giấy mỏng,
Lần đầu tiên sau ba mươi năm — nước mắt rơi xuống.
Không phải vì Triệu Kiến Quốc.
Không phải vì cuộc hôn nhân đổ vỡ ấy.
Mà là vì mẹ tôi.
Mẹ à, cảm ơn mẹ.
Cảm ơn mẹ đã luôn nghĩ cho con đến tận đường cùng.
Cảm ơn mẹ để dành cho con một lối thoát, một đường quay về.
Sáng hôm sau,
Tiếng chim ríu rít gọi tôi thức dậy.
Tôi thiếp đi ngay trên chiếc giường gỗ trong gian nhà chính,
Trên người chỉ đắp tạm một bộ sườn xám cũ lấy từ trong rương.
Toàn thân ê ẩm, nhưng tâm trí lại nhẹ tênh, thư thái đến lạ.
Việc đầu tiên tôi làm sau khi tỉnh dậy,