1.
"Chậc chậc, cô nương nhà họ Thẩm này đúng là hiền lành thật, tới mức thế mà vẫn không khóc không nháo."
Bảo là ta không có tính xấu thì cũng không hẳn.Chỉ là — ta tò mò hơn giận.
Lần này, Tạ Đại lang định xoay xở thế nào để dọn dẹp hậu quả cho em trai hắn đây?
Đầy tớ trong phủ chạy loạn khắp nơi vẫn chẳng tìm được người. Phụ mẫu nhà họ Tạ rốt cuộc cũng không ngồi yên nổi.
Lục soát cả phủ một lượt, chỉ thấy tiểu đồng thân cận của Nhị lang là Xuân Trà mặt mũi nhăn nhúm, nước mắt ngắn dài, hai tay dâng ra một phong thư và một tờ giấy lớn.
Trên tờ giấy viết không nhiều, nhưng từng hàng từng chữ đều toát lên sự khinh rẻ và chán ghét đến cực điểm:
"Tạ Thanh Từ ta cưới vợ, nhất định phải là người xinh đẹp dịu dàng, hay cười lại biết điều.Đằng này cả thành đều đồn ầm lên rằng cô nương nhà họ Thẩm từ Ngô Quận tới vừa dữ vừa ngu, lại còn khó chiều.Nói trắng ra, cô ta còn kém xa Kỷ Du.Xì, ta không cần thứ đó!"
Chữ “xì” cuối cùng được viết to như cái đấu, mực đen thẫm, đậm đến mức in hằn ra mặt sau tờ giấy — so với sắc mặt Tạ lão gia còn khó coi hơn gấp bội.
Tạ phụ giận đến mức chửi con là nghiệt súc, rồi quay sang trách mắng Tạ mẫu nuông chiều con trai, khiến Nhị lang không biết xấu hổ, làm mất sạch thể diện nhà họ Tạ.
Tạ mẫu cúi đầu, tay nắm chặt khăn tay lau nước mắt, chợt nhìn thấy Đại lang Tạ Thanh Trì đang đứng tiếp khách, ánh mắt lập tức như nhìn thấy cứu tinh:
"Đại lang à, làm sao bây giờ đây? Em con lại gây chuyện rồi.Con làm anh, lẽ nào lại không nghĩ cách gỡ gạc cho nó..."
Cả nhà họ Tạ quýnh quáng cả lên.Trong khi đó, khách khứa xung quanh lại nhỏ giọng bàn ra tán vào:
"Chưa kịp bước chân vào cửa đã bị nhà chồng từ hôn, cô nương họ Thẩm này chắc chắn là có vấn đề."
"Hừm, vấn đề gì không biết, nhưng cứ mập mờ thế này thì sau này ai còn dám lấy?"
Không rõ nhà họ Tạ rốt cuộc đã thương lượng những gì sau cánh cửa kia.
Chỉ biết ta ngồi trong kiệu đến mức ngáp dài một cái, che miệng khẽ khàng như thể chẳng liên quan gì.
Trong làn nước mắt lấp lánh phản chiếu ánh vàng của rèm châu nơi mũ phượng, ta thấy cửa kiệu khẽ động — một góc rèm bị vén lên nhẹ nhẹ...
Người đến là Tạ Thanh Trì.
Từ Ngô Quận xa xôi về Quảng Lăng, ta ngồi thuyền năm ngày đêm, mệt mỏi rã rời, lời hắn nói chỉ nghe được lờ mờ như trong mộng.
Tạ Thanh Trì đầy áy náy, nhẹ giọng cúi mình thay Nhị lang xin lỗi ta.
Khi hắn ngẩng đầu, thấy giọt lệ đọng nơi khoé mắt ta, khẽ khựng lại, như thể có điều gì đó chạm đến đáy lòng.
Rồi hắn hỏi ta, nếu không chê, có muốn... đổi gả cho hắn hay không.
Câu hỏi ấy khiến ta thoáng do dự.
Bằng lòng ngay thì có vẻ quá dễ dãi.
Từ chối thì lại phải ngồi thuyền năm ngày quay về.
Huống chi lúc xuất giá, cha mẹ khóc mãi không thôi. Nếu ta quay về rồi lại tái giá một lần nữa, chẳng phải lại khiến họ đau lòng thêm một lượt hay sao?
Mà bà vú Triệu vẫn hay nói, cha mẹ ta xưa nay vẫn tiếc rằng người ta gả cho không phải là Tạ đại lang — người cẩn trọng, hiểu chuyện, làm gì cũng chu toàn.
Chuyện có nên đổi gả hay không, ta chưa kịp nghĩ thấu.
Nhưng một bên là cha mẹ đau lòng hai lần, một bên là cha mẹ vui lòng hai lần, phân biệt cái nào hơn cái nào… thì ta vẫn hiểu rõ.
Hiểu rồi, ta mới khẽ gật đầu bước xuống kiệu.
Chợt nhớ lúc rời nhà, mẹ ta có dặn một câu:
"Tân nương bước ra cửa là người quý. Kẻ khác có mời, con phải ba lần nhún nhường, rồi mới khẽ gật đầu, hiểu chưa?"
Ban đầu ta cũng định làm cao, tỏ chút kiêu kỳ, để người ta không dễ xem thường.
Nhưng khi rèm kiệu vén lên, hiện ra trước mắt ta không phải Tạ Nhị lang — mà là Tạ Thanh Trì trong bộ hỉ phục rộng thùng thình.
Áo cưới ấy vốn không may cho hắn, nên mặc lên có phần vụng về, lúng túng đến tội.
Ta nhịn không được, né sau chiếc quạt tròn mà khẽ cười.
Xem ra — một nụ cười này thôi cũng đủ làm hỏng mất cái vẻ kiêu sa ta định giữ rồi.
Ta dứt khoát buông quạt xuống, cố nhịn cười, nghiêm túc hỏi hắn:
"Vậy chàng có cô nương nào trong lòng chưa?"
"Không có."
"Vậy chàng có tiểu thiếp, người cũ hay cô thanh mai nào trong lòng không?"
"Tuyệt đối không có."Sợ ta không tin, Tạ Thanh Trì còn nghiêm túc nói thêm một câu:"Về sau cũng sẽ không có."
Ta ngẫm nghĩ giây lát, khẽ gật đầu:
"Vậy thì được."
Thấy ta yên lặng bước xuống kiệu, tay nắm dải lụa đỏ, cùng hắn hành lễ bái đường, quỳ lạy cha mẹ chồng.
Khách khứa xung quanh sau một hồi xôn xao thì cũng dần dịu lại, miệng rộ lên lời chúc phúc, nào là “trăm năm hảo hợp”, nào là “sớm sinh quý tử”.
Cũng có vài người họ hàng bên nhánh phụ của nhà họ Tạ không vừa mắt, chỉ trỏ thì thầm, tỏ vẻ khó chịu.
Nhưng chưa kịp nói gì thêm đã bị một vị trưởng bối trong tộc — râu tóc bạc phơ, tay vuốt chòm râu, mặt mày rạng rỡ — ngắt lời bằng giọng ôn tồn mà chắc nịch:
"Đại lang có phúc đó, gặp được nàng dâu tính tình dịu hiền, biết chuyện như vậy, cháu trai ta có mơ cũng chẳng cầu được.Duyên phận là chuyện khó nói.Ngươi nhìn thì thấy trái khoáy, nhưng người ta lại vừa khéo hợp nhau."
2.