Hứa Trạch phẫn nộ quát, “Chị dám nói chuyện với mẹ như vậy à?!”
Bọn họ chia thành hai phe rõ rệt, đứng đối diện nhau trong căn phòng chật hẹp của tôi, vì cái chết của tôi mà cãi vã, tố nhau, buộc tội nhau.
Còn tôi chỉ lơ lửng trên chiếc sofa, lạnh lùng nhìn tất cả diễn ra.
Cho đến khi—
Tiếng chuông cửa vang lên.
11
Là bà chủ nhà.
Bà sống ngay lầu trên. Vừa mở cửa, bà liền trợn tròn mắt:
“Các vị là ai? Hứa Đào đâu?”
Căn phòng này cách âm vốn không tốt,
không thể giấu nổi những tiếng tranh cãi đầy cảm xúc của bốn người họ.
Bà chủ nhà thích yên tĩnh.
Khi tôi còn sống ở đây, lúc nào cũng im ắng ngoan ngoãn.
Câu hỏi vừa buông ra—
Tôi tận mắt nhìn bốn người kia đột ngột im phăng phắc như bị bóp nghẹn cổ.
Một lúc lâu sau, mẹ tôi mới mở miệng:
“Chúng tôi là người nhà của Hứa Đào. Con bé… đã qua đời.
Chúng tôi đến thu dọn đồ của nó.”
Bà chủ nhà sững sờ, không tin nổi.
Cuối cùng lại bật khóc.
Lúc quay trở lên lầu, bà vừa đi vừa nức nở:
“Đứa nhỏ ngoan đến thế… sao lại bất hạnh như vậy…”
Đúng vậy.
Tôi không may mắn.
Từ lúc sinh ra đến hôm nay, luôn là như vậy.
Bị gián đoạn, họ không cãi nữa, cúi đầu thu dọn đồ đạc của tôi.
Thực ra có gì mà thu dọn?
Tôi đến đời này tay trắng, đi cũng tay trắng.
Chỉ có một chút vướng bận trong lòng tôi—
nhưng người đó lại không hề bận lòng vì tôi.
Cuối cùng, mẹ tôi ngồi xuống mép sofa, lật xem hồ sơ trị liệu tâm lý của tôi.
Lại là hoàng hôn.
Ráng đỏ như máu xuyên qua ô cửa kính chiếu vào căn phòng.
Bên ngoài vọng lại tiếng còi xe.
Động tác của bà khựng lại, thần sắc dần trở nên hoang mang.
Phải chăng… bà nhớ ra điều gì?
Ví dụ như buổi chiều hôm đó, bên lề đường.
Bà nắm tay tôi, chỉ bị tôi khẽ hất nhẹ một cái—
là vội vàng thu lại tình thương, thu lại sự mềm lòng.
Đối với tôi, bà lúc nào cũng keo kiệt như thế.
“Đó là lỗi của tôi sao?”
Mẹ tôi khép tập ghi chép lại, giọng khàn đi:
“Nó từ nhỏ đã không hiểu chuyện, cũng chẳng thân với tôi.
Ba đứa con, tôi tất nhiên sẽ thương đứa gần gũi với mình hơn.”
Không.
Mẹ ơi, mẹ sai rồi.
Mẹ đã đảo ngược hết nhân quả.
Ngày đầu tiên bị đưa về nhà, tôi đã mơ hồ cảm nhận được sự lạnh nhạt của mẹ, nên mới luôn dè dặt thử thăm dò.
Hứa Kiều nói muốn giúp việc nhà, mẹ cười, dịu dàng bảo cô ta:
“Con nít thì biết làm gì, đi nghỉ đi.”
Tôi nói muốn rửa bát giúp mẹ—
mẹ liền vội vã đồng ý.
Rồi khi tôi lỡ làm bể một cái bát, mẹ lập tức xỉa trán tôi, mắng tôi vụng về.
“Mẹ.”
Tôi lại một lần nữa cất giọng khản đặc, nói những lời họ không bao giờ nghe thấy.
Trong tiếng nức nở vỡ vụn:
“Mẹ đưa con đến thế giới này, con chẳng hiểu gì hết.”
“Mẹ yêu con thế nào, con sẽ học yêu mẹ đúng như thế.”
Tình yêu của tôi vốn là tấm gương phản chiếu lại tình yêu của mẹ.
Mọi thứ trong tôi—
cách nói lời lạnh lùng,
những cơn bùng nổ cảm xúc,
những lần tuyệt vọng đến nghẹt thở—
đều là từ mẹ mà ra.
Trong căn nhà này, ý nghĩa của mẹ đối với tôi, chưa từng giống bất kỳ ai khác.
Tôi đã từng nằm trong bụng mẹ, gắn liền máu thịt với mẹ suốt mười tháng.
Sợi dây đó, sau khi tôi sinh ra, vẫn chưa từng hoàn toàn cắt đứt.
Kể cả khi tôi trôi dạt đến thành phố cách quê nhà ngàn dặm,
nó vẫn mơ hồ kéo giật tôi quay về.
Đến cả sau khi tôi chết,
chịu đau đớn, lạnh lẽo, tan nát,
linh hồn tôi vẫn bị lực hút vô hình ấy lôi trở về bên bà.
Tôi đã cố thuyết phục bản thân:
Thế giới rộng lớn,
đời người dài rộng,
không nhất thiết phải bị nhốt trong cái lồng nguyên sinh gia đình.
Tôi đi ngắm núi.
Ngắm biển.
Thu lại tất cả những vật sắc bén.
Mỗi ngày đều uống thuốc đúng giờ.
Nhưng khi ngang qua một thành phố nào đó,
nhìn thấy một bé gái nắm tay mẹ, cầm bóng bay đỏ đi ngang qua công viên giải trí—
Tôi lại bất giác đứng sững.
Nhìn chằm chằm.
Giống hệt như hồi tiểu học, bạn cùng bàn khoe với tôi:
Cô ấy thi rớt, mẹ mắng cô ấy.