10.
Quan nô không thể thoát khỏi thân phận nô tỳ. Dù ta đã mua lại khế ước bán thân của lão phu nhân, Kinh Nương và Nguyên Anh, nhưng cũng không thể giúp họ khôi phục thân phận lương dân. Sau sự việc đó, ta đã mua một xưởng thêu gần trang viên, giao cho Kinh Nương quản lý, chuyên dệt vải bông để bán. Nàng mang theo lão phu nhân đến chăm sóc, còn Nguyên Anh thì ở lại trang viên, làm bạn học với Nguyên Tuyết.
Ta biết Kinh Nương muốn hai chị em tiếp xúc nhiều hơn để bồi đắp tình cảm, nên không can thiệp. Nguyên Anh đoan trang, chín chắn; Nguyên Tuyết thì phóng khoáng và hào sảng. Chẳng mấy chốc, hai chị em đã trở nên thân thiết, gần gũi như hình với bóng.
Nguyên Anh có tài quản lý, rất giỏi trong chuyện kinh doanh; còn Nguyên Tuyết, tuy nhỏ tuổi nhưng lại khéo léo trong giao tiếp với người ngoại tộc, không biết từ đâu mà học được một thứ tiếng Hồ trôi chảy, giúp con bé làm nên vài vụ mua bán lớn tại phiên chợ. Ta và mụ mụ thường xuyên đưa cả hai theo để dạy dỗ.
Thời gian trôi qua bình lặng như dòng nước.
Ba năm sau, Thánh thượng băng hà, Thái tử lên ngôi, đại xá thiên hạ. Phủ Vĩnh Xương Hầu cũng được ân xá. Khi văn thư phóng thích quan nô được gửi đến, ta liền đem khế ước bán thân của ba bà cháu trao lại cho Kinh Nương.
Kinh Nương và Nguyên Anh cầm khế ước trên tay, vừa khóc vừa cười, trong khi lão phu nhân thì vẫn bình tĩnh lạ thường. Đêm hôm đó, bà ra đi trong giấc ngủ với nụ cười mãn nguyện trên môi.
Vị lão phu nhân kiên cường ấy, suốt đời gìn giữ sự tôn nghiêm của phủ Hầu, chịu đựng bao gian khổ mà người thường khó lòng chịu đựng nổi, cuối cùng đã được giải thoát và an nghỉ bình yên.
Lại một năm trôi qua, tân khoa bảng nhãn vì từ chối hôn sự mà đắc tội với một đại nhân vật ở Vĩnh Ninh, bị điều đến Ninh Cổ Tháp làm phủ doãn. Ngay từ lần đầu gặp, chàng đã phải lòng Nguyên Anh, và họ nhanh chóng định ước chuyện trăm năm.
Tin tức cũng truyền về từ Lĩnh Nam xa xôi, ba người con trai của Kinh Nương đã vượt qua những năm tháng lao dịch đầy gian truân. Người con trai út còn tham gia kỳ thi khoa cử và đỗ tiến sĩ, được phân công làm việc tại Giang Châu, quê ngoại của Kinh Nương. Chàng muốn đón mẹ về chung sống, hưởng trọn niềm vui đoàn viên.
Những chồi non cuối cùng đã nảy lên trên cành khô của phủ Vĩnh Xương Hầu.
Ngày Kinh Nương rời đi, ta dẫn theo Nguyên Anh và Nguyên Tuyết đến tiễn biệt.
Nguyên Anh khóc nức nở, suốt hai mươi năm qua, nàng chưa bao giờ phải xa Kinh Nương. Giờ đây phải chia cách, kẻ Nam người Bắc, gần trong gang tấc mà xa tận chân trời, khó lòng gặp lại. Tình mẫu tử như xé nát ruột gan.
Kinh Nương rơi nước mắt như mưa, nghẹn ngào vuốt ve mái tóc Nguyên Anh, dịu dàng nói: "Con ngoan, đừng khóc nữa. Khi mẹ ổn định ở Giang Châu, mẹ sẽ dành thời gian đón con và em gái về thăm."
Nguyên Anh chỉ biết gật đầu, khóc không thành tiếng.
Kinh Nương nắm lấy tay ta, nói: "Tô Tô, trong đời này, điều tốt đẹp nhất mà ta từng làm là kết giao với người bạn như ngươi."
"Nay ta giao Nguyên Anh cho ngươi. Nếu như con rể đối xử không tốt với nó…" Nàng nghẹn ngào, "ngươi hãy nhớ mang nó về nhà."
Ta rơi nước mắt, cười lớn mà nói: "Nguyên Anh là con gái của chúng ta, ngươi yên tâm, ta sẽ không để nó chịu thiệt thòi đâu."
Kinh Nương lưu luyến bước lên xe, đi một đoạn lại vén rèm gọi lớn: "Nguyên Anh, nhớ lời mẹ dặn!"
"Con nhớ! Mẹ!" Nhìn theo xe ngựa xa dần, Nguyên Anh gục khóc trong vòng tay ta.
Sau khi Kinh Nương rời đi, Nguyên Anh buồn bã suốt một thời gian dài. Nguyên Tuyết lo lắng, vội vàng mua một chú sói tuyết con đáng yêu từ người Hồ để tặng, hy vọng làm chị vui. Vương mụ mụ cũng cố gắng hết sức, biến tấu đủ món ngon để dỗ dành nàng.