11.
Hắn mặc kệ tiếng Huệ Nhi khóc lóc kêu gào, cứ thế lôi ta thẳng một mạch vào phòng, mạnh tay quăng ta lên giường.
Ta chụp lấy chiếc gối bên cạnh, giận dữ ném về phía hắn, hắn lại càng không màng đến, đè người áp sát xuống.
Ta ra sức đẩy hắn ra.
“Giang Tiêu, cút đi!”
Hắn hung hăng cắn lên vành tai ta, giọng mang theo phẫn nộ.
“Ngươi nói ngươi nhớ ai? Nhớ tên tú tài nghèo đó à?!”
Ta không đẩy nổi hắn, đành buông tay, nghiêng đầu đi, không nhìn hắn nữa.
Trong cơn tuyệt vọng, ta muốn rút trâm cài đầu mà đâm chết hắn cho xong, nhưng nghĩ tới Huệ Nhi, ta không thể.
Bỗng một ý nghĩ loé lên trong đầu, ta lớn tiếng hô lên:
“Giang Tiêu, ngươi nhìn bức họa kia đi, có phải là Trình Khiết – nguyên phối của ngươi không?!”
Hắn toàn thân chấn động, lập tức quay đầu lại nhìn, rồi mới phát hiện bị ta lừa.
Nhưng lần này, hắn không nổi giận. Ngược lại, hắn ngồi thẫn thờ, cúi đầu trầm mặc rất lâu, rồi đột nhiên đứng dậy rời khỏi phòng.
Ta gọi với theo sau lưng hắn:
“Nếu trong lòng ngươi vẫn còn nhớ đến nàng, thì hãy để mẹ con ta rời khỏi đây. Huệ Nhi là nữ nhi duy nhất của nàng, nếu cứ ở lại đây, Trần thị nhất định sẽ không đối xử tử tế với con bé.”
Hắn dừng bước trong chốc lát, nhưng không trả lời.
Ta vẫn tưởng hắn đã bạc tình đến tận xương, không ngờ với người đã khuất, lại còn giữ được một mảnh chân tâm.
Chớp mắt đã qua một tháng, tính theo thời gian thì giờ này hẳn là Cố Vị Đình đã vào kinh.
Trần thị cũng sắp đến kỳ sinh nở, đại phu đã chắc chắn đứa trẻ là con trai.
Ta bèn tìm đến nàng, cầu xin nàng thay ta nói giúp một lời, xin Giang Tiêu ban cho ta một tờ hưu thư.
Nàng nghe xong thì tròn mắt ngạc nhiên, không tin nổi lời ta nói.
“Ngươi thật sự muốn đi sao?”
Ta gật đầu.
Nàng lại hỏi tiếp:
“Vì sao nhất định phải là giấy hòa ly? Hưu thư thì chẳng được sao?”
Ta không trả lời, nhưng ta vẫn kiên quyết muốn có được giấy hòa ly.
Không rõ nàng đã gây chuyện với Giang Tiêu thế nào, tóm lại sau cùng nàng đã đưa tờ giấy đó cho ta.
Quan huyện sau đó lập hộ riêng cho ta, Huệ Nhi cũng được nhập vào danh sách, từ nay mang họ Thẩm, tên Thẩm Trình Huệ.
Ngày quay lại phủ họ Giang, ta chỉ mang theo chiếc hộp gỗ mà Cố Vị Đình từng tặng, lúc rời đi cũng chỉ có nó theo cùng.
Ta và Huệ Nhi trở về tiểu viện của Cố Vị Đình. Hắn đã đi rồi. Trong nhà chẳng mang theo thứ gì, chỉ đem đi gói hành lý mà ta đã chuẩn bị giúp hắn từ trước.
Dưới gối còn để lại hai tờ ngân phiếu, nhưng cuối cùng hắn chỉ cầm một tờ mà đi.
Nam nhân này, thật sự quá cố chấp. Không sợ bị kẻ gian cuỗm mất hay sao chứ.
12.
Ta cùng Huệ Nhi sống qua mùa Trung Thu trong tiểu viện ấy.
Cây quế nơi góc sân nở hoa, rồi cũng lặng lẽ tàn rụng. Lá bắt đầu ngả vàng, thì một gã lái buôn từ kinh thành trở về, là người hàng xóm sát vách năm xưa.
Vừa trông thấy ta, hắn đã reo lên:
“Này, A Lê, cô biết chưa? Cố lang nhà cô đỗ thám hoa rồi đó, còn được công chúa để mắt đến kìa!”
Hắn nói kỳ thi đã công bố bảng vàng trước Trung Thu, Cố Vị Đình đỗ vào hàng Tam Giáp, vào cung diện thánh thì gặp An Dương công chúa. Công chúa vừa gặp đã đem lòng cảm mến.
Dân gian rộ lên lời truyền rằng, thánh thượng hỏi vị thám hoa ấy có nguyện ý cưới công chúa hay không, thám hoa lang đáp rằng:
“Công chúa nhân hiền, lòng thần khâm phục.”
Tên lái buôn thở dài tiếc nuối:
“Chậc chậc, số cô thật chẳng may. Không làm được phu nhân nhà giàu, đèn leo lét khâu vá mấy năm mới nuôi nổi một thám hoa lang, cuối cùng lại thành phò mã mất rồi.”
Ta không trách hắn, là ta đã buông tay trước.
Nhưng khi đưa Huệ Nhi trở lại tiểu viện, trông thấy hai tờ ngân phiếu hắn để lại, ta vẫn không kiềm được mà sinh lòng vọng tưởng.
Vọng tưởng rằng nếu hắn hiểu được ta, thì sẽ quay lại.
Thế nhưng nay hắn đã công thành danh toại, tương lai rộng mở, ta và Huệ Nhi lẽ ra nên vì hắn mà mừng rỡ mới đúng.
Chỉ là một lần tương ngộ giữa dòng đời xuôi ngược, hắn đã cho mẹ con ta một mái nhà nương náu, vậy mà chúng ta lại chưa từng nói với hắn một lời cảm tạ.
Chỉ e từ nay về sau, cũng chẳng còn cơ hội để nói nữa rồi.
Thời gian lặng lẽ trôi qua, lá cây quế trong sân đã rụng sạch. Hai tờ ngân phiếu chỉ còn một, mỗi đêm khi Huệ Nhi yên giấc, ta lại ngồi bên ngọn đèn dầu, lặng lẽ nhìn tờ bạc còn lại mà ngẩn người.
Bên tai như vẫn còn vang vọng câu nói năm nào của hắn: “Tiết kiệm mà tiêu, đợi ta trở về.”
Nay hắn đã là phò mã, mà ta vẫn còn đợi điều gì nữa đây?
Ta quyết định, sáng mai sẽ đi tìm một công việc.
Hôm sau, ta đưa Huệ Nhi vào thành, tìm được một việc giặt đồ thuê. Tiền công tuy không cao, nhưng đủ để nuôi sống hai mẹ con. Chỉ khổ nỗi đường sá xa xôi, mỗi ngày ta phải cõng Huệ Nhi đi về mười dặm.
Mùa đông đến, đôi tay ngâm nước lạnh mỗi ngày đã nổi đầy những mảng da khô nứt, chân cũng bị phồng rộp vì đi nhiều.
Mỗi tối, Huệ Nhi lại ngồi dưới ngọn đèn, rưng rưng nhỏ thuốc lên tay ta, đôi mắt tròn xoe rưng rưng lệ.
“Nương, con sẽ mau chóng lớn lên, để người không phải vất vả thế này nữa.”
Nuôi lớn được Huệ Nhi, có lẽ là việc duy nhất trong đời này mà ta cảm thấy bản thân không hề uổng phí.
Hôm tuyết đầu mùa rơi xuống, Huệ Nhi gối cằm lên bàn, chờ ta bóc cho con bé một củ khoai nướng nóng hổi. Ngoài sân vọng vào vài tiếng vó ngựa, chẳng rõ là ai đang lên đường trong đêm tuyết lớn như thế, thật là cực nhọc.
Huệ Nhi chớp mắt nhìn ta, cái đầu nhỏ tròn trịa tựa vào cánh tay mũm mĩm, thì thầm hỏi:
“Nương, thúc phụ thật sự cưới công chúa rồi sao?”
“Phụ thân không cần chúng ta, thúc phụ cũng không cần chúng ta. Nương tốt như vậy, sao cứ mãi chẳng gặp được người tốt?”
Con bé mới năm tuổi, vậy mà lời nói ra lại khiến lòng ta thắt lại. Một đứa trẻ lanh lợi quá, dường như chuyện gì cũng hiểu.
Ta bật cười, đưa tay nhéo má con bé một cái, dịu dàng nói:
“Thúc phụ con đâu có cưới ta, sao lại bảo người không tốt? Người như vậy vẫn là người tốt đó chứ.”
Vừa dứt lời, cánh cửa cũ nát phía sau bỗng vang lên một tiếng “rầm” lớn, bị người ta xô mạnh mà bật mở.
Gió tuyết từ ngoài ùa vào theo bóng người quấn trong áo choàng, mang theo hơi lạnh buốt và giận dữ chưa tan.
Người nọ giận dữ bước tới, quát hỏi:
“Ai nói ta không cưới?”