4
Tưởng đâu đêm ấy sẽ khó ngủ, không ngờ lại say giấc không mộng, mãi tới khi nghe tiếng chén bát đổ vỡ, mới bừng tỉnh.
Ta đẩy cửa bước ra, chỉ thấy Phùng Chiếu Thu giận dữ, trừng trừng nhìn một phụ nhân đứng đối diện, chẳng khác nào Hộ Pháp Kim Cang.
Thấy ta ra, bà cố gắng nặn ra một nụ cười:
“Niệm Chi, con về phòng nghỉ trước đi.”
Ta còn chưa kịp phản ứng, thì phụ nhân đối diện đã nở nụ cười nịnh nọt, giành lấy lời:
“Xem xem, dung mạo thế này, trách nào người ta giữa đêm cũng tới tìm ta nhờ làm mối!
“Nha đầu Niệm Chi này, ta không nói ngoa đâu, trong thôn Bảo Hoa này ai chẳng biết nhà họ Trương của Trương Tuấn là giàu nhất? Biết bao cô nương tranh nhau muốn gả cho hắn, chỉ có ngươi là có phúc phần này thôi…”
Phùng Chiếu Thu giận tím mặt, quát to:
“Nói bậy nói bạ! Hắn mặt dày tới cầu thân, lại còn bày đặt kén chọn? Còn dám nói là phúc phần của con gái ta? Phi! Cút!”
Bà mối bị mắng nhưng vẫn cười nịnh nọt, đoán chừng là thấy Phùng Chiếu Thu dữ dằn khó đối phó, liền quay sang ta, nói:
“Nam lớn cưới vợ, nữ lớn gả chồng, đến tuổi rồi thì nên bàn hôn sự, bằng không chẳng mấy mà thành đại cô nương lớn tuổi, người ta lại cười chê.
“Ta cũng là vì lòng tốt mới tới khuyên nhủ, Niệm Chi cô nương, ngươi cũng nên nói với mẫu thân ngươi một câu, nữ lớn không thể giữ, giữ lâu hóa thù đó!”
Một câu vừa nói vừa châm chọc, lại xen cả gièm pha.
Ở phủ Hầu cũng có chuyện tranh đấu khẩu chiến, nhưng thường vòng vo ẩn ý, ít khi nào thô lỗ trắng trợn đến vậy.
Phùng Chiếu Thu tức đến mức không nói lời nào, xoay người vào bếp xách luôn con dao lớn, khí thế ngút trời xông ra.
Bà mối nhìn thấy, sợ đến tái mặt, quay đầu bỏ chạy, vừa chạy vừa mắng:
“Cái thứ điên khùng! Suốt đời cũng đừng mơ gả nổi con gái!”
Phùng Chiếu Thu chẳng thèm đuổi theo, chỉ thét một câu:
“Cút! Ngươi còn dám đến nữa, ta cho ngươi nằm cáng về!”
Bà mối chạy khuất bóng rồi, bàn tay Phùng Chiếu Thu vẫn còn run.
Bà giận thật rồi.
“Cái thứ gì đâu, dám đánh chủ ý lên con gái ta? Coi thường nhà họ Phùng chúng ta không có người hả? Nói cho các ngươi biết, ta giế//t súc sinh còn nhiều hơn cơm ăn, không thiếu một con đâu!”
Sợ bà lỡ tay làm bị thương chính mình, ta giành lấy con dao:
“Từ chối là được rồi, sao phải tức giận đến vậy?”
Giang Nhụy ôm chậu nước đi tới, đứng ở cửa viện hất một chậu ra ngoài, miệng còn lẩm bẩm:
“Xua xui đuổi rủi!
“Niệm Chi Tỷ tỷ, tỷ không biết đâu, tên Trương Tuấn ấy, tên thì nghe hay đấy, nhưng mặt mũi chẳng ra làm sao! Ngoại hình đã không ra gì, tính tình lại càng tệ!
“Hắn lấy hai đời vợ rồi, cả hai đều bị hắn đánh cho chạy mất dép đấy!”
Nay đã ngoài ba mươi, rỗi việc ăn bám, tiêu mãi cũng hết, trong thôn nhà ai tử tế lại chẳng chán ghét hắn? Ấy vậy mà còn dám mặt dày đến cầu thân ngươi? Thật đúng là không biết xấu hổ!
“Ta đến muộn mất rồi, chậu nước kia lẽ ra phải hắt thẳng vào mặt mụ mối đó mới đúng! Cứ tưởng ai cũng dễ bắt nạt chắc? Phi!”
Chuyện này tuy khiến người khó chịu, song lại giúp ta nhìn rõ bản thân hơn.
Nếu còn ở phủ Hầu, hạng người như hắn, làm phu khiêng kiệu cũng không xứng.
Nhưng ở Bảo Hoa thôn, nếu ta thật sự muốn bàn chuyện hôn sự, dẫu có chọn lựa kỹ càng tới đâu, thì cũng chẳng qua là một kẻ “Trương Tuấn” tốt hơn đôi chút.
Khoảng cách giữa công khanh và thứ dân, đâu chỉ là ăn mặc đi đứng?
Trong lòng ta sinh ra nỗi hoảng sợ. Có lẽ biểu hiện quá rõ, khiến Phùng Chiếu Thu nắm lấy tay ta, dịu giọng nói:
“Niệm Chi, ta đã tìm phu tử cho con rồi. Con đi học đi. Nếu có thiên tư, thì đi thi vào cục nội quan. Nếu không, học ít toán số cũng được, sau này cùng ta buôn bán mưu sinh.”
Phải rồi, bản triều lập sáu cục trong nội cung, tuyển chọn giống như khoa cử, không xét dung mạo, chỉ xét tài học.
Tay Phùng Chiếu Thu thô ráp mà rắn rỏi, giống hệt như lời nói của bà vậy—
“Niệm Chi, ta tuyệt đối không để con bị chôn vùi nơi này, tuyệt đối không!”
5
Bảo Hoa thôn từng có một vị điển ký chính thất phẩm, đưa cả cha mẫu thân huynh đệ tiến kinh, một nhà thoát ly bùn đất.
Bởi vậy trong thôn từ trước đến nay đều lưu truyền phong khí nữ nhi đọc sách.
Giang Nhụy là một trong số đó, còn vị phu tử mà ta sắp bái kiến, cũng là thầy của nàng.
Phùng Chiếu Thu vốn định đích thân đưa ta đi bái sư, nào ngờ sáng hôm ấy bò mẹ trong nhà trở dạ, bà không rời được, đành gửi gắm ta cho Giang Nhụy chăm sóc.
“Phu tử tuổi tuy trẻ, nhưng tài học xuất chúng. Nghe nói vốn là thiên kim tiểu thư của quan lớn kinh thành, sau khi phu quân mất sớm thì lập chí không tái giá, lui về Bảo Hoa thôn ẩn cư.”
Giang Nhụy nói như trút đậu, đem chuyện phu tử kể không sót một lời.
Tiểu thư quan gia, lời nói hành động thường ràng buộc với tiền đồ cha anh, chỉ nói đến phấn son cũng phải giữ ý ba phần.
Giang Nhụy và ta tương lai rất có thể sẽ tranh đấu trên trường thi, vậy mà nàng không hề giấu giếm lấy một câu — điều ấy khác hẳn với thế giới ta từng biết.
Ta đem ý nghĩ ấy nói với nàng, Giang Nhụy cười sảng khoái, như ánh hồng buổi sớm rực rỡ:
“Tỷ gặp phu tử rồi sẽ rõ.”
Nhà phu tử ở sát mép hồ, dựa nước mà dựng, chỉ có một lối nhỏ dẫn vào.
Dọc đường hoa nở liễu rủ, bước đi giữa cảnh phân hoa phất liễu, thanh nhã đến lạ, tựa như đào nguyên nơi thôn dã.
Cuối đường là hàng rào tre xanh biếc, cổng tre mở rộng. Trong viện, một nữ tử vận đạo bào đang đứng dưới cây... ngửa đầu uống rượu?
Thấy Giang Nhụy tới, nàng vỗ trán than:
“Chế//t rồi, quên mất hôm nay là ngày khai học!”
Giang Nhụy bất lực đáp:
“Phu tử, còn chưa ai tới đâu, người mau tỉnh rượu một chút đi!”
Tề Kiến Chân đặt vò rượu xuống, ánh mắt đảo qua mặt ta, trầm ngâm nói:
“Tiểu cô nương này, hình như đã gặp ở đâu rồi thì phải?”
Giang Nhụy đỡ trán:
“Hôm trước con có nói rồi mà, đây là nữ nhi của dì Phùng, mới từ kinh thành trở về. Nếu phu tử từng gặp qua cũng chẳng lạ. Giờ gần đến giờ rồi, người mau chuẩn bị một chút đi.”
Tề Kiến Chân “à” một tiếng:
“Dì Phùng trông cũng quen quen.”
“Chẳng quen sao được? Măng trúc người ăn mỗi năm đều là dì Phùng đi núi đào cho đấy.”
Giang Nhụy quay đầu bảo ta: