Sáng sớm hôm sau, ta nghe thấy bên ngoài có tiếng động khe khẽ.
Mở cửa nhìn ra, chẳng thấy bóng người nào, chỉ thấy mấy bó củi khô được xếp gọn gàng bên cạnh cửa, cùng với hai con thỏ rừng đã được làm sạch.
Đây chắc chắn là Kỷ Từ mang tới.
Ta không khỏi cảm thán, hắn quả nhiên là một đứa trẻ hiểu lễ nghĩa, biết cảm kích và giàu lòng nhân ái.
Dĩ nhiên, ta cũng không thể lấy không đồ của hắn.
Hôm sau, ta lại ghé thăm ngôi miếu hoang.
Ta mang theo một nồi thịt hầm làm từ thỏ rừng và gà rừng, cùng với một chiếc áo bông mà ta đã thức cả đêm để may cho hắn.
Hắn mặc thật sự quá phong phanh, ta luôn lo lắng hắn sẽ bị rét lạnh làm tổn hại sức khỏe.
Cầm áo bông trên tay, ta tiến đến, giơ áo lên so thử kích thước trên người hắn:"Có hơi rộng một chút, nhưng may mà vẫn mặc được. Dù sao ở tuổi này, trẻ con đều lớn rất nhanh."
Ta cúi đầu, khẽ mỉm cười, tiếp lời:"Chỉ là tay nghề của ta không được tốt, đường kim mũi chỉ hơi vụng. Ngươi đừng chê nhé."
Nói xong, ta quay lưng lại, lấy tấm giấy dầu mang theo ra đo đạc kích thước cửa miếu. Ta định lát nữa nấu hồ dán để sửa lại những cánh cửa sổ đã mục nát, che chắn bớt gió lạnh cho hắn.
Phía sau ta, Kỷ Từ đứng lặng hồi lâu.
Hắn ôm chiếc áo bông vào lòng, áp mặt lên lớp vải ấm áp ấy, nhẹ nhàng cọ cọ.
"Sao ta có thể chê được chứ…" Hắn thì thầm, giọng nói thoáng chút nghẹn ngào.
Ta không nghe rõ, quay đầu lại hỏi:"Ngươi vừa nói gì?"
Hắn lắc đầu, đáp:"Không có gì."
Kỷ Từ lập tức khoác chiếc áo bông vào, sau đó chạy đến bên cạnh ta, vừa giúp đỡ, vừa nói:"Tố Tố tỷ, cảm ơn tỷ."
Ta nhìn thấy đôi mắt hắn đỏ hoe, ngay cả đầu mũi cũng đỏ.
Đây là lần đầu tiên hắn gọi ta, lại còn là "Tố Tố tỷ" – một cách gọi đáng yêu đến vậy.
Ta không khỏi vui vẻ, khóe miệng không kiềm được mà khẽ cong lên.
Đêm hôm ấy, ta mang theo một chiếc nồi nhỏ, trong ngôi miếu đổ nát này nấu một nồi thịt và rau.
Trong nồi, nước sôi lăn tăn, những lát thịt và lá rau nổi lên chìm xuống, hương thơm ngào ngạt tỏa khắp.
Kỷ Từ không nói lời nào, chỉ ngồi ngoan ngoãn bên cạnh, ôm bát đũa chờ đợi, thỉnh thoảng lại len lén nuốt nước miếng.
Khi thịt chín, ta gắp một miếng cho hắn, rồi bảo:"Món này gọi là lẩu, ở kinh thành người ta còn gọi là ‘bát hà cung.’"
Kỷ Từ vừa ăn vừa bị nóng, hít hà thổi hơi liên tục, nhưng vẫn nghiêm túc gật đầu."Ngon lắm. Ta sẽ cố gắng săn nhiều thú hơn, để chúng ta có thể thường xuyên ăn món này."
Ta mỉm cười, gật đầu đáp:"Được. Nếu ngươi thích ăn, chúng ta sẽ thường xuyên nấu. Sau này, dù mưa hay tuyết, ta đều sẽ làm cho ngươi."
Kỷ Từ ngẩng lên nhìn ta, đôi mắt đen láy, sáng ngời, cong lên một cách dịu dàng.
Hắn khẽ đáp:"Được."
Từ hôm đó, ta và Kỷ Từ bắt đầu một cuộc sống hợp tác kỳ lạ nhưng lại rất hòa hợp.
Hắn mỗi ngày đều để trước cửa nhà ta những bó củi khô và thú săn được. Đáp lại, ta nấu thức ăn mang tới cho hắn, tiện thể sửa lại cửa sổ, giúp hắn trèo lên thang để vá mái nhà dột.
Thỉnh thoảng, khi thấy chum nước nhà ta chưa đầy, củi chưa bổ, hắn lại chủ động tới giúp.