3.
Ba tháng sau khi Tạ Kinh Tước không từ mà biệt, ta mới phát hiện mình đã mang thai.
Đứa trẻ… không thể không có cha.
Ta bán hết ruộng đất trong nhà, gói ghém thành một bọc đồ nhỏ, canh lúc trời chưa sáng đã rời đi.
Bất kể Tạ Kinh Tước còn sống hay đã chết, ta cũng phải tìm được hắn.
Lá thư hắn để lại, ta ngày nào cũng lấy ra đọc.
Hắn viết:“Nàng là ái thê của ta”—đã là thê tử rồi, sao ta có thể để hắn một mình chết ở ngoài kia cho được?
Trên đường, ta tình cờ gặp được đại phu Trương. Ông ấy nói tận mắt nhìn thấy Tạ Kinh Tước cầm tiền của ta, rồi đi về phía nam.
Phía nam… là đất Mạn nhân.
Một kẻ mang độc trong người như hắn, nếu thực sự đến đó—gần như chín phần chết, một phần sống sót cũng mong manh.
Khi ta đặt chân đến biên ải, đã là bốn tháng sau.
Cái bụng lớn đến mức ai nhìn cũng biết ta đang mang thai.
Tiền đi đường sớm đã tiêu sạch. Đến lúc đói đến hoa mắt chóng mặt, gần như thấy sao bay đầy trời, thì ta gặp được Tạ Kinh Vân.
Hắn dẫn theo vài trinh sát, vừa đột nhập vào núi đã đụng phải ta.
Gương mặt trong giấc mộng bao lần hiện về nay đang ở ngay trước mắt—ta không nhịn được nữa, nước mắt ào ào tuôn ra như vỡ đê.
“Tạ Bạch Điểu! Chàng chưa chết! Ta tìm chàng biết bao lâu!”
“Bệnh đã khỏi, sao không quay lại tìm ta hả?”
“Chàng là cái đồ yếu ớt, vai không thể gánh, tay không thể xách, chạy loạn khắp nơi làm gì! Ta khỏe như trâu, có thể cày ruộng nuôi chàng, chẳng lẽ còn để chàng chết đói sao?!”
Mấy người trinh sát đi cùng cứ “chậc chậc” không ngớt, tỏ vẻ kinh ngạc. Còn Tạ Kinh Vân thì bị đội cho ngay cái mũ “cầm thú phụ bạc”, trốn không nổi.
Mãi đến ba ngày sau, ta mới dần hiểu ra đầu đuôi mọi chuyện.
Tạ Kinh Vân đưa ta về phủ mình dưỡng thai, nói sau khi chiến sự yên ổn, nhất định sẽ dẫn Tạ Kinh Tước đến gặp ta, cho ta một lời giải thích đàng hoàng.
Cũng từ khi ấy, lần đầu tiên trong đời, ta bắt đầu suy nghĩ nghiêm túc.
Thì ra… chàng không gọi là Tạ Bạch Điểu. Tên thật của chàng là Tạ Kinh Tước.
Chàng cũng không phải một kẻ cô đơn lưu lạc, không nơi nương tựa. Chàng có phụ thân mẫu thân, có huynh trưởng đồng tông.
“Vậy người đâu? Từ lúc chàng rời khỏi ta đến giờ... cũng đã hơn bảy tháng rồi.”
Ta chẳng hề hay biết chuyện chàng trúng độc, chỉ nghe Tạ Kinh Vân bảo, ngày đó triều đình bất ngờ triệu hồi chàng trở về làm nhiệm vụ khẩn.
“Giờ đây,” hắn nói, “chàng đã mang mật báo tới Tây Cương, đưa tin về việc người Nam Man thông đồng với Tây Cương, định một đòn tiêu diệt toàn quân chúng ta.”
Thế là ta cứ thế ở lại biên ải, chờ.
Đến ngày hạ sinh, ta đặt tên cho đứa bé là Niên Khuyết.
“Khuyết” trong chữ “Tước”
Dẫu là ai, dù sống hay chết, đó cũng là hài tử của chàng.
Tạ Kinh Vân đối xử với đứa nhỏ rất tốt, chẳng khác gì ruột thịt.
Thỉnh thoảng hắn còn chỉ vào mặt mình, dạy bé gọi: “Phụ thân.”
Bị ta bắt gặp, hắn chỉ cười nhạt, nói một câu nhẹ như mây:“Dù sao ta với Tạ Kinh Tước cũng giống nhau tám phần, để nó nhớ mặt cha mình cũng tốt.”
Có lúc, ta khâu lại áo rách cho hắn, hắn lại nửa đùa nửa thật:
“Niên Khuyết trông giống ta lắm. Mấy vị tướng sĩ đều tưởng là con ruột của ta đó.”
Thật sự rất giống—giống đến mức khi ta lần đầu nhìn thấy hắn, đã suýt nhầm.
Chỉ là, nhìn kỹ thì vẫn có khác biệt.
Tạ Kinh Vân mang nét cương nghị, vững vàng như núi. Còn Tạ Kinh Tước thì như tranh gấm lụa là, đẹp đến mức như không thuộc về nhân gian.
Cho đến khi con đã hai tuổi, ta theo Tạ Kinh Vân từ biên cương trở về kinh thành—vẫn chẳng có một chút tin tức gì về Tạ Kinh Tước.
Tạ Kinh Vân từng nói: nếu Tạ Kinh Tước không thể quay về, hắn sẽ cưới ta.
Dù sao… đều là con cháu nhà họ Tạ, cũng chẳng khác biệt gì.
Ta không đáp lời.
Trong lòng vẫn luôn canh cánh một điều: Tạ Kinh Tước nợ ta một câu trả lời.
Cho đến khi... hoàng đế nhận ra ta chính là cốt nhục năm xưa ông và quý phi thất lạc chốn dân gian.
Cho đến khi... tin tức Tạ Kinh Tước khải hoàn trở về từ biên ải truyền tới tai ta.
Ngày ta khôi phục thân phận công chúa, cũng là ngày hắn bước chân vào cửa thành.
Thế nên đêm đó, ta lập tức sai người bắt hắn về phủ công chúa.
Lúc thật sự gặp lại, ta lại thấy có chút sợ hãi.
Sợ… hắn còn nhớ ta.Lại càng sợ… hắn không nhớ.
Nếu còn nhớ, tại sao năm xưa lại bỏ đi không một lời từ biệt, không để lại dù chỉ một câu?
Nếu không nhớ, thì ta và đứa nhỏ… phải làm sao đây? Lẽ nào mặt dày đi nhận?
Chuyện như vậy—bất kể là Giang Minh Nguyệt năm xưa, hay Chu Minh Nguyệt ngày nay—đều không làm được.
Trong lòng nghẹn một bụng tức giận, ta không muốn cho hắn sắc mặt dễ chịu. Vì vậy, ngay khoảnh khắc nghe thấy tiểu Niên Khuyết nói: “Sao lại có hai phụ thân?”, rồi nghe đến hai chữ “thánh chỉ”—sắc mặt hắn lập tức trắng bệch.
“Tiểu Nguyệt Lượng, đứa bé… Ta… Ca ca ta… các người…”
Hắn lắp bắp, gương mặt vốn anh tuấn giờ chỉ còn lại ngỡ ngàng, hoảng hốt.
Tạ Kinh Vân ung dung mở thánh chỉ, ánh mắt sắc như đao lướt thẳng qua hắn:
“Không sai. Ta đã xin bệ hạ ban hôn—cho ta và Minh Nguyệt.”
4.